Tài liệu ôn tập học kỳ II môn Ngữ văn 8 (Chân trời sáng tạo) - Hồ Thị Ngọc Lan

doc 19 trang vuhoai 09/08/2025 440
Bạn đang xem tài liệu "Tài liệu ôn tập học kỳ II môn Ngữ văn 8 (Chân trời sáng tạo) - Hồ Thị Ngọc Lan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • doctai_lieu_on_tap_hoc_ky_ii_mon_ngu_van_8_chan_troi_sang_tao_h.doc

Nội dung text: Tài liệu ôn tập học kỳ II môn Ngữ văn 8 (Chân trời sáng tạo) - Hồ Thị Ngọc Lan

  1. ÔN TẬP TRI THỨC NGỮ VĂN I.Thơ thất ngôn bát cú và thơ tứ tuyệt luật Đường - Thơ thất ngôn bát cú: Mỗi bài có tám câu, mỗi câu có bảy chữ. Thơ thất ngôn tứ tuyệt: Mỗi bài có bốn câu, mỗi câu có bảy chữ. - Bố cục: - Luật: Luật thơ là cách sắp đặt tiếng bằng, tiếng trắc trong các câu của một bài thơ. Luật bằng trắc của thơ thất ngôn bát cú, hoặc thất ngôn tứ tuyệt thường được tóm tắt bằng câu: “nhất - tam - ngũ bất luận, nhị - tứ - lục phân minh”. - Niêm: Sự kết dính về âm luật của hai câu thơ trong bài thơ luật Đường được gọi là niêm. Hai câu thơ được gọi là niêm vói nhau khi tiếng thứ hai của hai câu cùng theo một luật, hoặc cùng là bằng, hoặc cùng là trắc. + Thơ thất ngôn bát cú quy định niêm luật như sau: câu 1 niêm với câu 8; câu 2 niêm với câu 3; câu 4 niêm với câu 5; câu 6 niêm với câu 7; câu 8 lại niêm với câu 1. + Thơ thất ngôn tứ tuyệt quy định câu 1 niêm với câu 4; câu 2 niêm vói câu 3. - Vần: Cách gieo vẩn của thơ luật Đường là cả bài thơ cùng hiệp theo một vần (còn gọi là độc vận), vần gieo ở cuối câu thơ đầu và cuối các câu chẵn (vần chân), vần được sử dụng thường là vần bằng. - Nhịp: Cách ngắt nhịp của câu thơ thường là 2/2/3 hoặc 4/3 đối với thơ thất ngôn và 2/3 đối với thơ ngũ ngôn. - Đối: Cách đặt câu sóng đôi sao cho ý và chữ trong hai câu ấy cân xứng với nhau. Thơ thất ngôn bát cú quy định câu thứ 3 đối với câu thứ 4, câu thứ 5 đối với câu thứ 6. Thơ tứ tuyệt không có quy định đối cụ thể và khắt khe như thơ thất ngôn bát cú. II. Tri thức ngữ văn về đặc điểm của văn bản truyện a) Một số đặc điểm của văn bản truyện - Nhân vật chính là nhân vật quan trọng nhất của truyện, có những hành động, quyết định tác động đến cốt truyện và diễn tiến các sự kiện trong truyện, thể hiện rõ nhất tư tưởng, chủ đề của truyện. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:1
  2. - Chi tiết tiêu biểu là những chi tiết chọn lọc, có giá trị biểu đạt và thẩm mĩ vượt trội trong truyện, có thể mang lại sự bất ngờ gây chú ý đến sự thích thú đối với người đọc và góp phần quan trọng trong việc thể hiện chủ đề, tư tưởng của tác phẩm b) Tư tưởng của tác phẩm văn học - Tư tưởng của tác phẩm văn học là sự nhận thức, lí giải và thái độ của tác giả đối với toàn bộ nội dung của tác phẩm. Tư tưởng được thể hiện qua hình tượng nghệ thuật, qua đề tài, chủ đề, cảm hứng chủ đạo, * Luyện tập: Đề 1: Phân tích bài thơ “Nam quốc sơn hà”. * Bố cục của bài thơ có thể được xác định theo hai cách: – Cách 1: có thể chia bố cục bài thơ thành bốn phần: + Khai (câu 1): giới thiệu vấn đề chủ quyền với giọng điệu rõ ràng, cương quyết. + Thừa (câu 2): bổ sung ý đã nhắc đến ở câu 1 và giữ mạch cảm xúc. + Chuyển (câu 3): chuyển ý sang vấn đề xâm lược lãnh thổ của quân giặc. + Hợp (câu 4): khẳng định kết cục không tốt đẹp của quân giặc khi xâm lược lãnh thổ nước Nam. – Cách 2: có thể chia bố cục bài thơ thành hai phần: + Câu 1 – 2: giới thiệu vấn đề chủ quyền và khẳng định tính tất yếu không thể thay đổi của chủ quyền đất nước. + Câu 3 – 4: cảnh cáo việc quân giặc sang xâm lược và khẳng định kết cục không tốt đẹp của chúng khi xâm lược lãnh thổ nước Nam. Một số yếu tố thi Xác định Kết luận luật trong văn bản “Nam quốc sơn hà” Số câu 4 Số chữ trong 7 câu Bài thơ tuân thủ Niêm Chữ thứ hai của câu 1 là “trắc” niêm với chữ thứ quy định về luật, niêm, hai của câu 4 cũng là “trắc”, chữ thứ hai của câu 2 vần, đối của một bài là “bằng” niêm với chữ thứ hai của câu 3 cũng là thơ thất ngôn tứ tuyệt “bằng”. luật trắc vần bằng theo luật Đường. Vần Hiệp theo một vần ở các câu 1, 2 và 4 (cư – thư – hư). Đối Không có quy định đối cụ thể và khắt khe. Nhịp Nhịp 4/3 hoặc 2/2/3. 2. Nét độc đáo của văn bản “Nam quốc sơn hà” - Từ “Nam quốc”, “Nam đế”: khẳng định sự chính danh của quốc gia, của bậc đế vương có chủ quyền trên lãnh thổ của mình. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:2
  3. - Câu đầu có thể ngắt theo nhịp 4/3 hoặc 2/2/3, tạo âm điệu chậm rãi, trang nghiêm. - Từ “thiên thư” (sách trời) cho thấy “tính pháp lí” của chủ quyền: chủ quyền đã được ghi rõ, quy định rõ bằng VB của “nhà trời”, không phải chuyện người thường muốn mà thay đổi được và cũng không thể thay đổi được bằng hành vi xâm lược.  Giới thiệu vấn đề chủ quyền và khẳng định tính tất yếu không thể thay đổi của chủ quyền đất nước Đề 2. Phân tích bài thơ “Qua đèo Ngang” của bà Huyện Thanh Quan. 1. Một số yếu tố thi luật của thơ thất ngôn bát cú trong văn bản “Qua Đèo Ngang” a.Bố cục: * Cách 1: Bốn phần: đề – thực – luận - kết. - Đề (câu 1 – 2): cái nhìn bao quát về cảnh vật vắng vẻ và đìu hiu, thể hiện tâm trạng cô đơn, buồn bã của tác giả. - Thực (câu 3 – 4): miêu tả cuộc sống, con người ở Đèo Ngang. - Luận (câu 5 – 6): mượn thanh âm và khung cảnh tự nhiên để gửi gắm tâm trạng nhớ nước, thương nhà của tác giả. - Kết (câu 7 – 8): thể hiện tình cảnh và tâm sự cô đơn của tác giả. * Cách 2: Hai phần: - Câu 1 đến câu 4: tả cảnh Đèo Ngang. - Câu 5 đến câu 8: thể hiện tình cảm nhớ nước, thương nhà và tâm sự cô đơn của tác giả. b.. Niêm, luật, vần, nhịp, đối Xác định Luật – Luật trắc vì tiếng thứ hai của câu 1 là tiếng thanh trắc (tới). – Câu 1 niêm với câu 8, câu 2 niêm với câu 3, câu 4 niêm với câu Niêm 5, câu 6 niêm với câu 7. – Chỉ hiệp theo một vần là vần bằng, gieo ở cuối câu 1 (tà) và Vần các câu chẵn là 2, 4, 6 và 8 (hoa – nhà – gia – ta). – Chủ yếu ngắt nhịp 4/3, hai câu 5 và 6 ngắt nhịp 2/2/3. Đây là Nhịp cách ngắt nhịp tiêu biểu của thơ thất ngôn bát cú luật Đường, tạo âm điệu nhẹ nhàng, sâu lắng. Đối – Câu 3 đối với câu 4, câu 5 đối với câu 6. III.TRI THỨC TIẾNG VIỆT. 1. Thành phần biệt lập: là thành phần phụ có tính độc lập với nòng cốt câu. 2. Các thành phần biệt lập và chức năng : -Thành phần phụ chú: được dùng để bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu, thường được tách biệt bằng dấu gạch ngang, dấu phẩy, dấu ngoặc đơn hoặc dấu hai chấm. -Thành phần gọi – đáp: được dùng để gọi đáp, tạo lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếp. -Thành phần tình thái: được dùng để diễn tả thái độ, cách đánh giá của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:3
  4. VIẾT BÀI VĂN GIỚI THIỆU MỘT CUỐN SÁCH YÊU THÍCH 1.Văn bản giới thiệu một cuốn sách: thuộc kiểu văn bản thông tin, trong đó người viết cung cấp các thông tin về một cuốn sách, đồng thời trình bày cảm nhận, đánh giá của người viết nhằm giới thiệu, khuyến khích mọi người đọc cuốn sách đó. 2. Cấu trúc gồm: + Phần 1: Nêu thông tin vế tên cuốn sách, tên tác giả; trình bày ấn tượng hoặc nêu nhận xét khái quát của người viết đối với cuốn sách. + Phần 2: Tóm tắt ngắn gọn nội dung cuốn sách, trình bày nhận xét đánh giá của người viết về giá trị của cuốn sách. + Phần 3: Khẳng định giá trị cuốn sách và đế xuất mọi người nên đọc. Quy trình viết Thao tác cần làm Bước 1: Chuẩn bị trước khi viết Xác định đề tài ... Xác định mục đích, người đọc Thu thấp tư liệu Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý Tìm ý ... Lập dàn ý ... Bước 3: Viết bài Thực hành viết bài Bước 4: Xem lại và chỉnh sửa rút kinh Rút kinh nghiệm nghiệm ... ÔN TẬP PHẦN ĐỌC HIỂU Đề 1. Đọc bài thơ sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới: HỒI HƯƠNG NGẪU THƯ (Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê) Hạ Tri Chương Phiên âm: Thiếu tiểu ly gia, lão đại hồi, Hương âm vô cải, mấn mao tồi. Nhi đồng tương kiến, bất tương thức, Tiếu vấn, khách tòng hà xứ lai? Dịch nghĩa: Rời nhà từ lúc còn trẻ, già mới quay về, Giọng quê không đổi, nhưng tóc mai đã rụng. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:4
  5. Trẻ con gặp mặt, không quen biết, Cười hỏi: Khách ở nơi nào đến? Câu 1. Bài thơ trên thuộc thể thơ nào? A. Thất ngôn bát cú đường luật B. Thất ngôn tứ tuyệt đường luật C. Thất ngôn xen lục ngôn D. Song thất lục bát Câu 2. Dòng nào nêu lên tâm trạng của tác giả trong bài thơ? A. Vui mừng, háo hức khi trở về quê B. Buồn thương trước cảnh quê hương có nhiều thay đổi C. Ngậm ngùi, hụt hẫng khi trở thành khách lạ giữa quê hương D. Đau đớn, luyến tiếc khi phải rời xa chốn kinh thành Câu 3. Biện pháp nghệ thuật nào không sử dụng trong bài thơ Hồi hương ngẫu thư? A. Biểu cảm qua tự sự và miêu tả B. Phép tương phản C. Phép đối D. Ẩn dụ Câu 4 . Nhận định nào sau đây không đúng với bài thơ? A. Hai câu đầu có giọng điệu nhẹ nhàng, bình thản, khách quan song pha lẫn nỗi buồn ngậm ngùi B. Thể hiện tình yêu quê hương thắm thiết của một người lữ khách nhớ về cố hương. C. Hai câu sau là giọng điệu hóm hỉnh, bi hài chứa đựng một nỗi buồn ngậm ngùi, cô đơn của tác giả khi về đến quê nhà. D. Bài thơ sử dụng phép tiểu đối thành công, góp phần thể hiện sâu sắc những tâm tư, tình cảm của tác giả. Câu 5 (1,0 điểm) Chỉ ra và phân tích tác dụng của biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong hai câu thơ đầu. Câu 6 (0,5 điểm) Nhà thơ đã thể hiện tâm trạng gì qua câu thơ “ Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai ”? Câu 7 (1,0 điểm) Sự biểu hiện tình quê hương ở hai câu trên và hai câu dưới có gì khác nhau về giọng điệu? Câu 8 (0,5 điểm) Em hãy kể tên một số bài thơ đường luật viết về quê hương mà mình biết. Đáp án Phần I. Đọc hiểu (5,0 điểm) Câu Nội dung cần đạt Điểm 0,5 Câu 1 B. Thất ngôn tứ tuyệt đường luật điểm 0,5 Câu 2 C. Ngậm ngùi, hụt hẫng khi trở thành khách lạ giữa quê hương điểm GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:5
  6. 0,5 Câu 3 D. Ẩn dụ điểm B. Thể hiện tình yêu quê hương thắm thiết của một người lữ khách nhớ về cố 0,5 Câu 4 hương. điểm - Phép đối: thiếu tiểu – lão đại, li gia – đại hồi; hương âm vô cải – mấn mao tồi. 1,0 Câu 5 - Tác dụng: Nhấn mạnh tình yêu quê hương nên tác giả trở về quê hương. điểm Câu thơ “Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai” thể hiện niềm chua xót, u buồn của tác giả khi trở về quê: Đây chính là quê hương ông nhưng ông bị coi là khách lạ. Khách lạ ngay chính quê hương mình. Đây là quy luật tự nhiên, giờ bạn ông chắc đã còn. 0,5 Câu 6 Song, tự đáy lòng ông rất tủi buồn vì tình yêu quê hương dồn nén hơn 50 năm giờ điểm được đáp đền là thế. Nên nhi đồng hớn hở bao nhiêu thì nhà thơ sầu muộn bấy nhiêu. - Hai câu đầu giọng điệu chân thực, sâu sắc, hai câu cuối hình ảnh âm thanh tươi vui. 1,0 Câu 7 - Ý nghĩa: Câu thơ sử dụng những hình ảnh, âm thanh vui tươi để thể hiện nỗi ngậm điểm ngùi, buồn tủi, xót xa của tác giả. HS nêu tên tác giả, tác phẩm: Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan, Chiều 0,5 Câu 8 hôm nhớ nhà – Bà Huyện Thanh Quan, điểm Đề 2. Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi bên dưới: (1) Chúng ta ai cũng khao khát thành công. Tuy nhiên, mỗi người định nghĩa thành công theo cách riêng. Có người gắn thành công với sự giàu có về tiền bạc, quyền lực, tài cao học rộng; có người lại cho rằng có một gia đình êm ấm, con cái nên người là thành công, v.v. Chung quy lại, có thể nói thành công là đạt được những điều mong muốn, hoàn thành mục tiêu của mình. (2) Nhưng nếu suy ngẫm kỹ, chúng ta sẽ nhận ra rằng thật ra, câu hỏi quan trọng không phải là “thành công là gì?” mà là “thành công để làm gì”? Tại sao chúng ta khát khao thành công? Suy cho cùng, điều chúng ta muốn không phải bản thân thành công mà là cảm giác mãn nguyện và dễ chịu mà thành công đem lại, khi chúng ta đạt được mục tiêu của mình. Chúng ta nghĩ rằng đó chính là hạnh phúc. Nói cách khác, đích cuối cùng mà chúng ta nhắm tới thật ra là hạnh phúc, còn thành công chỉ là phương tiện. Quan niệm cho rằng thành công hơn sẽ giúp chúng ta hạnh phúc hơn chỉ là sự ngộ nhận, là ảo tưởng. Bạn hãy để hạnh phúc trở thành nền tảng cuộc sống, là khởi nguồn giúp bạn thành công hơn chứ không phải điều ngược lại! Đó chính là “bí quyết” để bạn có một cuộc sống thực sự thành công. (Theo: songhanhphuc.net) Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản trên là gì? A. Tự sự B. Miêu tả C. Nghị luận D. Biểu cảm Câu 2. Theo văn bản, thành công là gì? GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:6
  7. A. Thành công là đạt được những điều mong muốn, hoàn thành mục tiêu của mình. B. Thành công là sự giàu có về tiền bạc, quyền lực, tài cao học rộng. C. Thành công là có một gia đình êm ấm, con cái nên người. D. Thành công là được làm những gì mình muốn. Câu 3. Đoạn (2) được triển khai theo kiểu đoạn văn nào? A. Diễn dịch B. Quy nạp C. Song song D. Kết hợp Câu 4. Nội dung chính của đoạn (2) là gì? A. Mục đích của sự thành công B. Bí quyết để có một cuộc sống thành công C. Vai trò của thành công D. Giải thích thành công là gì Câu 5 (0,5 điểm) Theo tác giả, điều nào quan trọng hơn: thành công là gì hay thành công để làm gì? Câu 6 (0,5 điểm) Phép liên kết nào được sử dụng trong đoạn (1), nêu tác dụng. Câu 7 (1,0 điểm) Theo em, vì sao tác giả cho rằng: quan niệm thành công hơn sẽ giúp chúng ta hạnh phúc hơn chỉ là sự ngộ nhận, là ảo tưởng? Câu 8 (1,0 điểm) Em có đồng tình với quan niệm Hạnh phúc là nền tảng cuộc sống, là khởi nguồn giúp bạn thành công hơn chứ không phải điều ngược lại không? Vì sao? Đáp án Phần I. Đọc hiểu (5,0 điểm) Câu Nội dung cần đạt Điểm Câu 1 C. Nghị luận 0,5 điểm A. Thành công là đạt được những điều mong muốn, hoàn thành mục tiêu Câu 2 0,5 điểm của mình. Câu 3 B. Quy nạp 0,5 điểm Câu 4 B. Bí quyết để có một cuộc sống thành công 0,5 điểm Câu 5 Theo tác giả, thành công để làm gì quan trọng hơn. 0,5 điểm - Phép liên kết: + Phép nối: Tuy nhiên Câu 6 + Phép lặp: Thành công 0,5 điểm - Tác dụng: + Làm tăng sức biểu đạt cho đoạn văn. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:7
  8. + Giúp người đọc hiểu được định nghĩa của sự thành công. Tác giả cho rằng: quan niệm thành công hơn sẽ giúp chúng ta hạnh phúc Câu 7 hơn chỉ là sự ngộ nhận, là ảo tưởng vì: Trên thực tế, có nhiều người 1,0 điểm thành công nhưng không hạnh phúc. HS có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau: - Nêu rõ quan điểm đồng tình hay không đồng tình; lí giải hợp lí, thuyết phục. Câu 8 Gợi ý: + Hạnh phúc là động lực thúc đẩy ta hành động tích cực + Hạnh phúc là mục tiêu để ta phấn đấu NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌC Đề: Phân tích tác phẩm truyện, bài thơ mà em thích. DÀN Ý PHÂN TÍCH TÁC PHẨM TRUYỆN 1.Mở bài:Giới thiệu tác phẩm (tên tác phẩm, tác giả) Nêu khái quát về chủ đề và một vài nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm. 2.Thân bài:Nêu chủ đề của tác phẩm - Chỉ ra và phân tích tác dụng của một vài nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm. 3.Kết bài: - Khẳng định lại chủ đề và giá trị của một vài nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm. - Nêu suy nghĩ/cảm xúc về tác phẩm, chia sẻ bài học rút ra cho bản thân DÀN Ý 1. Giới Thiệu - Mở đầu và giới thiệu về Bà Huyện Thanh Quan cùng bài thơ “Qua Đèo Ngang”. - Tổng Quan về Giá Trị Nội Dung và Nghệ Thuật của Tác Phẩm. 2. Thân bài - Bà Huyện Thanh Quan (1805-1848): + Là Một Nữ Sĩ Thời Trung Đại. + Bà Đã Được Mời Vào Kinh, Giữ Chức Cung Trung Giáo Tập Để Dạy Học Cho Các Công Chúa Và Cung Phi. + Tác Phẩm Của Bà Không Nhiều, Chủ Yếu Viết Bằng Chữ Nôm. - Bài Thơ “Qua Đèo Ngang”: Được Sáng Tác Khi Nữ Sĩ Theo Chồng Vào Phú Xuân (Huế) Để Nhậm Chức. b, Phân Tích: * Đoạn Mở Đầu: Tái Hiện Khung Cảnh Thời Gian Và Không Gian Nơi Đèo Ngang: “Bước Tới Đèo Ngang Bóng Xế Tà Cỏ Cây Chen Lá, Đá Chen Hoa” GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:8
  9. - Thời Gian: “Bóng Xế Tà”: + Kết Thúc Một Ngày. + Con Người Trở Về Bên Gia Đình. -> Đặc Biệt Nhấn Mạnh Nỗi Cô Đơn, Quạnh Hiu Của Tác Giả. - Bối Cảnh Thiên Nhiên: + Những Đối Tượng: Cỏ Cây, Lá, Đá, Hoa. + Sử Dụng Từ Ngữ “Chen”. -> Tạo Hình Khung Cảnh Thiên Nhiên Hoang Sơ Nhưng Đầy Năng Lượng. * Cảnh Thực Tế: Tái Hiện Cuộc Sống Con Người Ở Đèo Ngang: “Người Dân Dưới Núi Tiều Cười Một Vài Chú Lưng Lạc Bên Sông Chợ Những Ngôi Nhà” - Sử Dụng Cụm Từ Như “Lom Khom”, “Lác Đác” -> Khuấy Động Hình Ảnh Vắng Vẻ, Thưa Thớt. - Nghệ Thuật Đảo Ngữ: + Lom Khom - Tiều Một Vài Chú. + Lác Đác - Chợ Mấy Nhà -> Tôn Chất Sự Nhỏ Bé Của Con Người Trước Bản Dạng Thiên Nhiên Rộng Lớn. Từ Đó Làm Nổi Bật Hơn Nỗi Cô Đơn, Quạnh Hiu Của Con Người Trong Không Gian Hoang Vu. * Tâm Trạng: Con Người Trước Đèo Ngang: “Nhớ Nước Đau Lòng Con Quốc Quốc Thương Nhà Mỏi Miệng Của Gia Gia” - Sử Dụng Động Từ Thể Hiện Trạng Thái “Nhớ”, “Thương”. - Biểu Tượng Hình Ảnh Của Chim Đỗ Quyên, Chim Đa Đa: + Sử Dụng Tiếng Kêu Của Hai Loài Chim: Quốc Quốc, Gia Gia. + Thủ Pháp Sử Dụng Động Và Tĩnh. -> Thể Hiện Sự Nhớ Thương Với Quê Hương, Tình Yêu Với Đất Nước Của Nữ Sĩ. * Kết Câu Mang Đậm Nỗi Cô Đơn Của Con Người Trước Thiên Nhiên: “Ngừng Bước, Đứng Lại, Trời, Núi, Sông Mảnh Tình Riêng, Ta Với Ta” - Hành Động: “Ngừng Bước, Đứng Lại”. - Không Gian Rợn Ngợp: “Trời, Núi, Sông” - Nỗi Lòng của Thi Sĩ: “Mảnh Tình Riêng, Ta Với Ta”. -> Khẳng Định Nỗi Cô Đơn, Trống Trải Của Tác Giả Trước Không Gian Thiên Nhiên Bao La, Rộng Lớn. 3. Kết Bài - Cảm nghĩ về giá trị của tác phẩm. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:9
  10. Phân Tích Bài Thơ Qua Đèo Ngang - Bà Huyện Thanh Quan Trong thế giới văn hóa đương đại, nếu chúng ta bắt gặp sự sắc sảo, mạnh mẽ, bứt phá trong thơ của Hồ Xuân Hương, thì nhất định sẽ cảm nhận được sự điều tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn trong những bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan. 'Qua đèo Ngang' là minh chứng rõ nét cho phong cách tinh tế ấy. Bài thơ 'Qua đèo Ngang' chịu ảnh hưởng của bối cảnh khi tác giả, sau khi nhậm chức ở Phú Xuân (Huế), vượt qua đèo này. Cảm xúc chủ yếu của bài thơ là nỗi buồn man mác, nỗi nhớ quê hương và tình thương dành cho phụ nữ trên đường xa. Bài thơ tuân theo thể thất ngôn bát cú với cấu trúc đề, thực, luận kết. Mặc dù chỉ có 8 câu thơ, nhưng tác phẩm đã thành công trong việc truyền đạt tâm hồn, cảm xúc của cảnh vật và con người đối diện với khung cảnh trời núi hiu quạnh như thế này. Hai câu đề mở ra trước mắt độc giả bức tranh hoang sơ của đèo Ngang: Bước chân vượt qua đèo Ngang, bóng tối dần buông xuống Cỏ cây kề bên lá, lá xen lẫn cùng hoa Không gian và thời gian tại đèo Ngang hiện hữu trong 'bóng tối dần buông xuống'. Nó không chỉ là khung cảnh mà còn chứa đựng cảm xúc nặng nề, hòa quyện cùng nỗi buồn và nỗi sầu. Ca dao, dân ca thường mô tả buổi chiều như khoảnh khắc biểu lộ nỗi buồn không biết nói cùng ai. Mặt trời dần chìm xuống núi, bóng tối bao phủ. Cảm giác cô đơn, lạc lõng tràn ngập. Cảnh thiên nhiên tại đây trở nên quạnh hiu, chỉ có cỏ cây và hoa, hòa quyện như tình yêu đan xen trong nỗi buồn. Từ 'chen' như một điểm nhấn tăng cường sự hiu quạnh của địa điểm này. Lom khom dưới chân núi, tiều tiện vài chú Lác đác ven sông, chợ nhỏ mấy nhà Hình ảnh con người chỉ xuất hiện ở 'tiều tiện vài chú'. Chúng như là những hạt bụi tiều tiện bé nhỏ, tận dụng cuộc sống dưới chân núi. Tuy nhiên, sự sống này mong manh và hữu vô. Bằng cách đảo ngược cú pháp ở hai câu thơ này, Bà Huyện Thanh Quan nhấn mạnh sự hoang sơ và hiu quạnh tại đèo Ngang. Sử dụng từ láy 'lom khom' và 'lác đác' không chỉ mô tả công việc gian khổ của những người đàn ông nhỏ bé này mà còn thể hiện sự cô đơn, lạc lõng. Những hình ảnh này trong thơ làm nổi bật sự độc đáo và mong manh trong cuộc sống. Danh sách những bài Phân tích bài thơ Qua đèo Ngang- Bà Huyện Thanh Quan xuất sắc nhất Chuyển sang hai câu thực, cảm xúc và tâm sự của tác giả nổi dậy bất ngờ Nhớ quê như một nỗi đau sâu cuốc cuốc Thương nhớ nhà, mỏi miệng cái da da Âm thanh cuốc cuốc và da da tạo nên bức tranh êm đềm, nhưng sâu thẳm và đầy cảm xúc. Người du khách nghe thấy tiếng cuốc và da da vang lên, lòng như đau nhói, buồn thấu đáo. Sử dụng thủ pháp lấy động tả tĩnh, tác giả hình dung cảnh tượng yên bình, nhưng lại kèm theo âm thanh nao lòng. Tiếng cuốc, tiếng da da khiến tác giả nhớ về quê nhà, thương nhớ những khoảnh khắc gia đình, càng làm nổi bật nỗi đau khi phải xa quê, đơn độc giữa đường xa. Hai câu thơ kết thúc khiến cảm xúc và nỗi niềm của tác giả đạt đến đỉnh điểm Dừng bước lại, trời non nước Mảnh tình riêng biệt ta với ta Chỉ với bốn từ 'dừng bước lại', nỗi đau và sự lạc lõng của tác giả trở nên da diết và buồn thâm thúy. Dù trời non nước bao la, con người vẫn nhỏ bé, tác giả cảm thấy lạc lõng giữa vô vàng. Mảnh tình nhỏ bé, chỉ thuộc về 'ta với ta'. Nỗi buồn dường như đạt đến cực điểm, làm thấm đẫm tâm can và nghiêng ngả trên trời đất. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:10
  11. Bài thơ 'Qua đèo Ngang' với giọng điệu da diết, trầm bổng và những kỹ thuật nghệ thuật độc đáo đã để lại trong lòng độc giả những cảm xúc khó phai. Câu chuyện của bài thơ dường như vẫn còn vang vọng mãi mãi. Câu thơ thể hiện niềm tự hào, kiêu hãnh về đất nước Việt Nam. Thiên nhiên ở quê hương chúng ta tươi đẹp, phong cảnh hòa quyện, tràn đầy sức sống. Đó là nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca. Thiên nhiên có thể lấp lánh như trong giấc mơ, cũng có thể rực rỡ, hùng vĩ như ánh mặt trời. Nhưng đồng thời, cảnh đẹp cũng có thể buồn bã, u tối dưới bàn tay của những nhà thơ, chứa đựng tâm sự u hoài khi sáng tác. Nguyễn Du đã từng nói: 'Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ'. Câu thơ này khiến ta liên tưởng đến bài thơ Qua đèo Ngang của bà Huyện Thanh Quan. Bước chân tới đèo Ngang, bóng xế tà. Cỏ cây xen kẽ đá, lá rải hoa Lom khom dưới chân núi, tiều vài chú Lác đác ven sông, chợ mấy căn nhà Nhớ quê nước đau lòng từng gia đình Thương nhà, mệt mỏi, lời kể của ông bà Dừng bước, đứng lại, trời cao, nước biển rộng Một tình yêu riêng, ta và đất đai. Để thấu hiểu và trân trọng bài thơ, ta cần đánh giá cao cả tài năng và tư tưởng của bà Huyện Thanh Quan, người luôn dành trái tim cho quê hương, đất nước, và gia đình. Có ai dám khẳng định rằng phụ nữ trong xã hội truyền thống không trải qua những cảm xúc thiêng liêng như vậy? 1. Đặc điểm của văn bản truyện trong văn bản “ Bồng chanh đỏ” Đặc điểm Thể hiện trong văn bản “Bồng chanh đỏ” Điểm nhìn Nhân vật Hoài – một nhân vật trong truyện – kể lại câu chuyện của anh em mình. Ngôi kể Ngôi kể thứ nhất Nhân vật Hoài – một nhân vật trong truyện – kể lại câu chuyện của anh em mình tạo nên cách nhìn chủ quan, nhiều cảm xúc, suy nghĩ và Cách kể chuyện điểm nhìn trong sáng, chân thực của một chú bé nông thôn tinh nghịch nhưng nhân hậu, biết nhận lỗi và sửa sai BỒNG CHANH ĐỎ 2. Đề tài và nội dung bao quát của văn bản “ Bồng chanh đỏ” Truyện Bồng chanh đỏ kể về hai anh em chú bé Hoài vốn yêu thích loài chim bồng chanh đỏ ở đầm nước quê hương nên đã tìm cách bắt chúng về nuôi.Vừa bắt xong, hai anh em quyết định trả chú chim về lại tổ đểvợ chồng chú có cuộc sống tự do. 3. Chủ đề, thông điệp của văn bản: - Chủ đề: Tình yêu thương và sự tôn trọng quyền sống tự do đối với loài vật. - Thông điệp:Bài học về cách ứng xử: + Tìm hiểu về vẻ đẹp của thế giới loài vật để hiểu đúng giá trị của chúng. + Sống chan hòa với các loài động vật, không bắt nhốt, không sát hại. + Say mê, ngưỡng mộ vẻ đẹp của các loài vật nhưng vẫn tôn trọng cuộc sống tự do của chúng. + Chăm sóc, bảo vệ các loài động vật, nhất là các loài động vật có nguy cơ tuyệt chủng trong thế giới tự nhiên. 1.Mở bài - Giới thiệu tác giả, tác phẩm: GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:11
  12. + Đỗ Chu là nhà văn nổi tiếng thuộc thế hệ các tác giả trưởng thành từcuộc kháng chiến chống Mỹ. Các tác phẩm của ông rất giàu chất thơ. Ông lấy phần lớn đề tài từ các làng quê, đạo lý của con người và phong tục tập quán dân tộc... + Truyện ngắn Bồng chanh đỏ in trong Chuyện mùa hạ. - Nêu ý kiến khái quát về chủ đề và nét đặc sắc về nghệ thuật của truyện: Qua câu chuyện kể về kỉ niệm của hai anh em Hiền và Hoài gắn với đôi chim bồng chanh đỏ, ta thấy rung động trước tình yêu thương mà hai anh em dành cho thế giới loài vật. Nội dung ấy được thể hiện qua cách kể chuyện đặc sắc của nhà văn 2.Thân bài - Nêu ngắn gọn nội dung chính của tác phẩm: Truyện Bồng chanh đỏ kể về hai anh em chú bé Hoài vốn yêu thíchloài chim bồng chanh đỏ ở đầm nước quê hương nên đã tìm cách bắt chúng về nuôi. - Chủ đề truyện – Tình yêu thương và sự tôn trọng quyền sống của các loài động vật- Điều đặc biệt tình yêu thương trong truyện được thể hiện qua sự chuyển biến về nhận thức, suy nghĩ tình cảm của nhân vật Hoài, để cho chúng ta thấy rằng tình yêu thương thôi là chưa đủ mà tình yêu thương còn cần thể hiện đúng cách, yêu thương không phải là tìm cách chiếm hữu mà là phải tôn trọng quyền sống của các loài động vật. - Đặc sắc nghệ thuật: + Ngôi kể thứ nhất tạo nên một cách nhìn chủ quan, nhiều cảm xúc, suy nghĩ và điểm nhìn trong sáng, chân thực của một chú bé nông thôn tinh nghịch, nhân hậu, biết nhận lỗi và sửa sai. + Trình tự thời gian từ hiện tại đến quá khứ gây ấn tượng, thu hút sự chú ý, tò mò của người đọc, người đọc như được sống lại những kí ức, hồi tưởng cùng nhân vật. + Nghệ thuật khắc họa nhân vật – Tác giả không chú trọng miêu tả ngoại hình mà đi sâu khắc họa suy nghĩ, tâm trạng, hành động để từ đó thấy được sự chuyển biến sâu sắc trong suy nghĩ và nhận thức của nhân vật, đặc biệt tác giả rất tỉ mỉ, tinh tế khi miêu tả hai trạng thái cảm xúc khác nhau của hai nhân vật trong cách ứng xử với bông chanh đỏ, từ đó bộc lộ tính cách của hai nhân vật này. + Chi tiết đặc sắc chứa đựng tư tường của nhà văn, gửi gắm thông điệp của nhà văn: thể hiện tình yêu thương, chứa đựng niềm hi vọng. 3.Kết bài - Khẳng định lại chủ đề của truyện - Nêu cảm nghĩ: Truyện để lại nhiều bài học về cách ứng xử của con người: yêu thương, tôn trọng, bảo vệ và mong muốn những điều tốt đẹp với thế giới loài vật nói chung BỐ CỦA XI-MÔNG 1. Mở bài - Giới thiệu tác giả: + Guy Đơ Mô-pa-xăng được người ta biết đến là nhà văn hiện thực nổi tiếng của Pháp vào thế kỷ XIV. + Ông đã để lại nhiều tác phẩm giàu giá trị nhân đạo. - Giới thiệu tác phẩm: + "Bố của Xi-mông" là một trong số rất nhiều tác phẩm đặc sắc của ông. 2. Thân bài * Khái quát chung - Tóm tắt tác phẩm: + Tác phẩm là câu chuyện kể về cuộc đời của Xi-mông, một bé thiếu tình cha từ nhỏ. + Mẹ của Xi-mông một mình sinh ra Xi-mông và hai mẹ con cùng nhau sống trong một ngôi nhà nhỏ. + Xi-mông lớn lên, đến trường và bị các bạn trêu đùa, bỡn cợt vì không có cha. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:12
  13. + Rồi cậu bé gặp được bác Phi-líp, mong muốn bác làm cha của mình và bác đã đồng ý. + Vì thương Xi-mông, bác Phi-líp đã cầu hôn mẹ cậu bé và cậu có một người cha thật sự. * Phân tích cụ thể - Nhân vật cậu bé Xi-mông: + Là cậu bé có cuộc sống thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần: "Nó độ bảy, tám tuổi. Nó hơi xanh xao, rất sạch sẽ, vẻ nhút nhát, gần như vụng dại". + Là một đứa trẻ bất hạnh, luôn với sống với nỗi đau không có bố: muốn tìm đến cái chết, muốn bác Phi-líp làm cha mình. - Nhân vật bà Blăng-sốt: + Là một người phụ nữ xinh đẹp nhất vùng nhưng tính lại dễ tin người → bị một người đàn ông lừa dối, phụ tình và là nguyên nhân khiến con của mình không có cha. + Là một người mẹ hết mực yêu thương con của mình. - Nhân vật bác Phi-líp: + Là một người đàn ông nhân hậu, vị tha: yêu thương Xi-mông ngay từ lần đầu tiên gặp gỡ, cầu hôn mẹ Xi-mông vì thương cậu bé. 3. Kết bài Khẳng định lại giá trị của tác phẩm: - Thể hiện tình yêu thương của tác giả → giá trị nhân đạo của tác phẩm. Bài Văn Phân Tích Truyện Bố Của Xi-Mông Guy Đơ Mô-pa-xăng được người ta biết đến là nhà văn hiện thực nổi tiếng của Pháp vào thế kỷ XIV. Với qua nhiều thăng trầm, cay đắng trong cuộc sống đã biến những trang viết của ông thành áng văn giàu giá trị nhân đạo. Mô-pa-xăng có một số lượng tác phẩm vô cùng đồ sộ gồm nhiều thể loại từ truyện ngắn, tiểu thuyết đến kịch. "Bố của Xi-mông" là một trong số rất nhiều tác phẩm đặc sắc của ông. Tác phẩm đã để lại rất nhiều giá trị cho người đọc. "Bố của Xi-mông" là câu chuyện kể về cuộc đời của Xi-mông, một cậu bé ngay từ khi sinh ra đã không được sống trong tình yêu thương của cha. Mẹ của cậu là bà Blăng-sốt. Thời còn trẻ bà là cô gái xinh đẹp nhất vùng, thế nhưng lại bị một gã đàn ông tệ bạc, lừa dối khiến bà đánh mất đi thanh xuân tươi đẹp của mình. Một mình sinh ra Xi-mông và hai mẹ con cùng nhau sống trong một ngôi nhà nhỏ. Dù hết mực yêu thương, chăm sóc con nhưng bà Blăng-sốt vẫn không thể nào bù đắp được sự thiếu sót tình cha. Xi-mông lớn lên, đến trường và bị các bạn trêu đùa, bỡn cợt vì không có cha. Sự thiếu hụt về tinh thần khiến cậu bé thấy chán nản với cuộc sống của mình. Rồi cậu bé gặp được bác Phi-líp, mong muốn bác làm cha của mình và bác đã đồng ý. Nhưng câu chuyện chưa dừng lại ở đó, đám bạn trong trường học vẫn tiếp tục chế giễu cậu vì bác Phi-líp không phải chồng của bà Blăng-sốt thì làm sao có thể là cha của Xi- mông. Ở phần tiếp theo của truyện, bác Phi-líp đã cầu hôn Blăng-sốt và từ đó Xi-mông có một người cha thật sự. Theo mạch cốt truyện trên, câu chuyện cũng được chia làm bốn phần. Phần một Mô-pa-xăng hướng ngòi bút của mình vào miêu tả sự buồn tủi và tuyệt vọng của Xi-mông. Tiếp theo là sau khi cậu bé tình cờ gặp bác Phi-líp khi đang đi dạo trên bờ sông. Sau đó bác Phi-líp đưa Xi-mông về nhà, đồng ý làm cha Xi-mông, cầu hôn bà Blăng-sốt. Ngay từ những phần đầu câu chuyện Mô-pa-xăng đã miêu tả Xi-mông với một cuộc sống khổ sở, thiếu thốn cả vật chất lẫn tinh thần. Tả Xi-mông, Mô-pa-xăng đã viết thế này: "Nó độ bảy, tám tuổi. Nó hơi xanh xao, rất sạch sẽ, vẻ nhút nhát, gần như vụng dại". Cái "xanh xao", cái "nhút nhát", "vụng dại" đó phần nào đã thể hiện được cuộc sống thiếu thốn về vật chất và vắng đi tình cha của Xi-mông. Đâu chỉ có vậy, Xi-mông còn là một đứa trẻ bất hạnh, luôn với sống với nỗi đau không có bố. Điều này đã thể hiện rất rõ qua hành động bỏ nhà ra bờ sông và đặc biệt là qua ý định muốn tự tử của cậu bé. Thật may mắn thay thiên nhiên tươi đẹp, đầy sức sống đã khiến em chợt nhớ tới mẹ của mình, nghĩ đến ngôi nhà nhỏ xinh xắn nên đã từ bỏ ý định dại dột của mình. Và em đã khóc, khóc cho bớt tủi hờn, cay đắng: "Người em rung lên, em quỳ xuống và đọc kinh cầu nguyện như trước khi đi ngủ. Nhưng em không đọc hết được vì những cơn nức nở lại kéo đèn, dồn dập, xốn xang choáng ngợp lấy em. Em chẳng nghĩ GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:13
  14. ngợi gì nữa, chẳng nhìn thấy gì quanh em nữa mà chỉ khóc hoài". Từng câu, từng chữ của Mô-pa-xăng như mũi dao nhọn khứa vào tâm can người đọc về cái dáng vẻ đáng thương của một cậu bé không có cha. Nhưng thật bất ngờ, chính lúc đó em lại gặp bác Phi-líp và mọi thứ thay đổi từ đây. Nghe lời bác Phi-líp hỏi, Xi-mông khó khăn lắm mới có thể trả lời: "Em trả lời, mắt đẫm lệ, giọng nghẹn ngào: Chúng nó đánh cháu... vì... cháu... cháu... không có bố... không có bố". Cái giọng nghẹn ngào rồi kết thúc lại bằng ba chữ "không có bố" nghe thật xót xa làm sao. Câu chuyện như được đẩy lên cao trào khi bác Phi- líp đưa Xi-mông về nhà, cậu bé gặp mẹ trong tâm trạng tủi mừng: "Xi-mông nhảy lên ôm lấy cổ mẹ, lại òa khóc và bảo: Không, mẹ ơi, con muốn nhảy xuống sông cho chết đuối, vì chúng nó đánh con... đánh con... tại con không có bố". Nói về mẹ của Xi-mông, bà là một người phụ nữ xinh đẹp nhất vùng nhưng tính lại dễ tin người. Sự cả tin đó đã khiến bà bị một người đàn ông lừa dối, phụ tình và là nguyên nhân khiến con của mình không có cha. Và hơn tất cả, chị là một người mẹ hết mực yêu thương con của mình. Khi nghe Xi-mông kể là cậu bé bị đánh vì không có bố, tấm lòng người mẹ đau đớn đến tận xương tủy, chị chỉ biết ôm con và mặc cho nước mắt tuôn rơi. Rồi khi nghe con mình hỏi bác Phi-líp có muốn làm bố nó không chị chỉ biết dựa vào tường, tay ôm ngực, quằn quại và đau đớn. Suy cho cùng mẹ của Xi-mông cũng chỉ là một người phụ nữ đôn hậu bình thường nhưng lại bị một kẻ phụ tình lừa dối khiến cho chính mình và đứa con rơi vào cảnh thiếu đi tình thương của cha. Nhân vật tiếp theo phải kể đến là bác Phi-líp. Bác Phi-líp là một người đàn ông nhân hậu, vị tha. Bác đã dành tình thương cho Xi-mông ngay từ khi mới gặp cậu bé. Đối với Xi-mông bác Phi-líp giống như một vị thần xuất hiện và đưa cậu rời khỏi vòng tay của thần chết. Bác là niềm vui bất ngờ, niềm hạnh phúc lớn lao xuất hiện trong cuộc đời em. Sau này cũng chính vì thương Xi-mông mà bác đã ngỏ lời cầu hôn bà Blăng-sốt để em có một người cha thật sự. Như vậy, bác Phi-líp không chỉ là niềm vui, niềm hạnh phúc của Xi-mông mà còn mang đến cho mẹ con họ một mái ấm gia đình thật sự. Cái hay của nhà văn là đã để bác Phi-líp tự cảm nhận vẻ đẹp của bà Blăng-sốt qua cuộc nói chuyện của hai người họ. Phẩm chất tốt đẹp của Blăng-sốt đã phần nào khiến bác Phi-líp càng muốn vượt qua những định kiến của người đời để đem đến hạnh phúc cho hai mẹ con Xi-mông. Bởi vậy nói về nhân vật bác Phi-líp có người ví đây được coi là đại diện của nhà văn, đại diện cho những tấm lòng nhân ái. Đọc "Bố của Xi-mông" người đọc phải tự hỏi Mông-pa-xăng đã phải trải qua bao nhiêu cay đắng, khổ đau trong cuộc đời thì mới có thể viết nên tác phẩm cảm động như vậy. Tác phẩm giống như tiếng nói nhân đạo của nhà văn đồng thời nó cũng thay cho thông điệp: "tất cả đứa trẻ sinh ra đều cần được sống trong tình yêu thương của cả cha và mẹ". CÔ BÉ BÁN DIÊM CỦA AN-ĐÉC-XEN A. Mở bài: - “Cô bé bán diêm” là truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn người Đan Mạch An-đéc-xen, thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả trước hoàn cảnh đáng thương của cô bé bán diêm bất hạnh. B. Thân bài: Luận điểm 1: Phần đầu tác phẩm khắc họa hình ảnh cô bé bán diêm trong đêm giao thừa. - Mở đầu tác phẩm là hoàn cảnh của cô bé bán diêm: nhà nghèo, mồ côi mẹ, chân đất, bụng đói. Dưới trời rét mướt của đêm giao thừa, cô vẫn phải lang thang đi bán diêm kiếm tiền. - Tác giả xây dựng nên 2 hoàn cảnh đối lập nhau: + Một bên là khung cảnh đêm giao thừa: nhà nhà sáng rực ánh đèn, nức mùi thơm của thức ăn. + Một bên là hình ảnh cô bé “ngồi nép trong góc tường”, “mỗi lúc em càng thấy rét buốt hơn”, “đôi bàn tay cứng đờ ra” . Đến cả ngôi nhà tồi tàn của cô hiện tại cũng không thể chắn nổi từng đợt gió rét cắt da cắt thịt. ⇒ Sự đối lập ấy đã nhấn mạnh hoàn cảnh đáng thương, khổ sở của cô bé khi vừa phải chịu cái rét, vừa phải chịu cái đói, đau buốt chân tay. Nhưng bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy được phần nào sự vô cảm, thờ ơ của xã hội khi không có ai đưa tay ra giúp đỡ em khỏi đêm rét buốt đó. Luận điểm 2: Hiện thực và mộng tưởng trong ánh mắt trẻ thơ của cô bé GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:14
  15. - Giữa cái giá rét, cô bé quyết định quẹt diêm để sưởi ấm cho chính mình. Mỗi lần quẹt diêm là một ước mơ giản dị, chân thành và đầy ngây thơ của cô bé: + Lần quẹt thứ 1: cô mơ thấy một lò sưởi to ⇒ ước được sưởi ấm, thoát khỏi cái giá rét + Lần quẹt thứ 2: cô mơ thấy một bàn ăn thịnh soạn với những món ăn hoành tráng ⇒ ước được ăn no, thoát khỏi cái đói, cái nghèo. + Lần quẹt thứ 3: cô nhìn thấy cây thông Nô-en thật to và đầy màu sắc ⇒ ước được đón lễ giáng sinh như bao người khác + Lần quẹt thứ 4: bà hiện ra ⇒ ước được đoàn tụ với người bà thân yêu của mình. - Mỗi lần quẹt diêm là một khung cảnh trong mơ hiện ra trước mặt cô bé, nhưng những giấc mộng đó chỉ kéo dài trong vài giây và sau khi diêm tắt, mọi thứ lại trở về với tối tăm, rét mướt, đói khổ. Sự đan xen giữa mộng tưởng và hiện thực như một nhát dao cứa vào lòng người đọc khi cảm nhận được nỗi bất hạnh, sự cô đơn, lạc lõng của cô gái bé nhỏ giữa xã hội. - Ở lần quẹt diêm thứ 4, cô đã nhất quyết níu tay người bà và cầu xin bà cho cô đi cùng. Đây được coi là chi tiết cảm động nhất. Nó không chỉ thể hiện tình yêu, lòng quý trọng, nhớ thương của cô với người bà quá cố, mà còn là sự níu kéo lại những phút giây hạnh phúc mỏng manh duy nhất của cuộc đời, cũng là ước muốn được giải thoát khỏi khổ đau trong tâm hồn non nớt ấy. Luận điểm 3: Cái chết của cô bé bán diêm trong đêm giá lạnh - Cuối cùng, Chúa cũng xót thương cho số phận bất hạnh của cô bé và đưa cô về với người bà của mình nơi Thiên đường. Hình ảnh cô bé chết với đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười như xoáy sâu vào lòng người đọc một nỗi bàng hoàng, xúc động và một câu hỏi về sự vô tâm, vô cảm của xã hội xung quanh. Luận điểm 4: Thành công nghệ thuật: - Nghệ thuật kể hấp dẫn người đọc với các tình tiết hợp lí, logic, sự đan xen giữa hiện thực với mộng tưởng làm tăng thêm hiệu quả nghệ thuật và thành công cho truyện. - Nghệ thuật khắc họa tâm trạng nhân vật và diễn biến tâm lí nhân vật tinh tế, sâu sắc. C. Kết bài: - Khẳng định lại giá trị tác phẩm: Tác phẩm khắc họa lại tình cảnh đáng thương và những ước mơ giản dị, trong sáng, xúc động của cô bé bán diêm. - Liên hệ: Qua đó thể hiện tấm lòng nhân đạo cao cả của tác giả. CHIẾC LÁ CUỐI CÙNG CỦA O HEN-RI. 1. Mở bài - Giới thiệu sơ lược tác giả, tác phẩm và thông điệp của tác phẩm. 2. Thân bài a. Khái quát chung - Giới thiệu các nhân vật: Giôn-xi, Xiu và cụ Bơ-men là những họa sĩ nghèo, thuê trọ ở một khu phố tồi tàn phía tây công viên Oa-sinh-tơn. Tóm tắt tình huống: + Giôn-xi ốm nặng và nằm đợi chiếc lá cuối cùng của cây thường xuân bên cửa sổ rụng, khi đó cô sẽ chết. + Nhưng qua một buổi sáng và một đêm mữa gió phũ phàng, chiếc lá vẫn không rụng. Điều đó làm Giôn-xi thoát khỏi ý nghĩ về cái chết. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:15
  16. + Xiu đã cho Giôn-xi biết chiếc lá đó chính là bức tranh họa sĩ già Bơ-men đã vẽ trong đêm mưa gió để cứu cô và chính cụ đã chết vì sưng phổi. b. Phân tích * Nội dung: - Khung cảnh mùa đông và tình cảnh tuyệt vọng của Giôn-xi: + Nỗi sợ hãi ám ảnh tâm trạng xủa Xiu và cụ Bơ-men trong đêm mưa gió. + Niềm tin kì quặc của Giôn-xi khi phó thác cuộc đời cho chiếc lá thường xuân. - Tình huống đảo ngược thứ nhất: + Tâm trạng đau khổ của Xiu khi mở cửa cho Giôn-xi. Sự bất ngờ ngoài dự kiến: chiếc lá vẫn ở đó. + Tâm trạng chờ đợi héo hắt của Giôn-xi: tuyệt vọng, thiếu niềm tin vào cuộc sống. + Chiếc lá vẫn ở trên tường: thức tỉnh ý chí sống của Giôn-xi, giúp cô tự tin vượt qua bệnh tật. Thiên nhiên thua chiếc lá, bệnh tật thua ý chí con người. - Tình huống đảo ngược thứ hai: + Tâm trạng Xiu: từ hồi hộp lo lắng đến khi hiểu rõ sự thật là sự hòa trộn tình yêu thương, cảm phục trước tấm lòng cao cả của cụ Bơ-men. + Sự hi sinh cao cả đã đem đến nguồn sống cho đồng loại. Nghệ thuật cao cra có thể thức tỉnh lòng tin ở con người. * Nghệ thuật: - Kể xen tả và biểu cảm. - Đảo ngược tình huống 2 lần -> Kết thúc độc đáo, bất ngờ. - Xây dựng tình huống hấp dẫn, sắp xếp chặt chẽ và khéo léo, gây hứng thú cho người đọc. c. Nhận xét: - Ca ngợi tình yêu thương cao cả giữa những người nghèo khổ. - Nghệ thuật chân chính là nghệ thuật của tình yêu thương, vì sự sống của con người. 3. Kết bài - Đánh giá, nhìn nhận lại vấn đề. - Liên tưởng và suy nghĩ về bản thân. LÁ CỜ THÊU SAU CHỮ VÀNG I. Tác giả văn bản Lá cờ thêu sáu chữ vàng - Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) là một nhà văn, nhà viết kịch Việt Nam nổi tiếng. Ông là tác giả của những tiểu thuyết lịch sử, vở kịch lớn như: Vũ Như Tô, Đêm hội Long Trì, Bắc Sơn, Sống mãi với thủ đô. - Trong những trang văn của Nguyễn Huy Tưởng luôn chất chứa đầy chất thơ của cuộc sống cùng với đó là những bài ca về tình yêu thương con người, đồng loại. Nguồn cảm hứng lớn nhất trong các tác phẩm của ông thiên về khai thác lịch sử. Ông viết văn để thể hiện tinh thần yêu nước. 1. Thể loại Lá cờ thêu sáu chữ vàng thuộc thể loại truyện lịch sử 2. Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác - Tác phẩm Lá cờ thêu sáu chữ vàng ra đời năm 1960. Đây là khoảng thời gian mà nước ta đang gồng mình kháng chiến chống lại giặc Mỹ. - Văn bản trên đây thuộc phần 3 của tác phẩm. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:16
  17. 3. Phương thức biểu đạt Văn bản Lá cờ thêu sáu chữ vàng có phương thức biểu đạt là tự sự. 4. Người kể chuyện Văn bản Lá cờ thêu sáu chữ vàng được kể theo ngôi thứ ba. 5. Tóm tắt văn bản Lá cờ thêu sáu chữ vàng Tác phẩm kể về người anh hùng nhỏ tuổi Trần Quốc Toản. Sau khi có giấc mơ mang điềm báo về việc bản thân bắt sống tên sứ thần hống hách nhà Minh. Cậu đã tiến về Bình Than xin nhà vua cho cùng dự họp bàn việc nước. Thấy cậu còn nhỏ, vua ban cho một quả cam rồi đuổi ra ngoài. Ấm ức và thất vọng, khi rời đi, Quốc Toản đã bóp nát quả cam lúc nào không hay. Về nhà, cậu chăm chỉ rèn luyện võ nghệ, chờ ngày báo đáp tổ quốc. Ít lâu sau, khi giặc tấn công nước ta, Trần Quốc Toản mang theo lá cờ thêu sáu chữ vàn “Phá cường địch, báo hoàng ân” ra trận. Với sự dũng mãnh, cậu đã đạt nhiều chiến công vang dội, ghi danh vào sử sách. 6. Bố cục văn bản Lá cờ thêu sáu chữ vàng Văn bản được chia làm 3 phần - Phần 1: Từ đầu đến “nhưng lại e phạm thượng”: Hoài Văn xin xuống bến họp bàn việc nước nhưng không được chấp thuận. Phần 2: Tiếp đến “thưởng cho em ta một quả”: Hoài Văn xông xuống bến Bình Than xin đánh. Phần 3: Còn lại: Tâm trạng của Hoài Văn. 7. Giá trị nội dung Lá cờ thêu sáu chữ vàng khắc họa hình ảnh người anh hùng nhỏ tuổi Hoài Văn với tinh thần yêu nước bất diệt. Qua đó khơi dậy biết bao dòng cảm xúc trong tâm hồn những người con yêu nước và giúp người đọc hiểu thêm về lịch sử đất nước Việt Nam anh hùng. 8. Giá trị nghệ thuật Bằng sức tưởng tượng phong phú, ca từ giàu chất biểu cảm, lập luận chặt chẽ, tác phẩm chinh phục tấm lòng người đọc biết ơn, ghi công người anh hùng dân tộc với tinh thần yêu nước quật cường. III. Tìm hiểu chi tiết tác phẩm 1. Ý nghĩa nhan đề Lá cờ thêu sáu chữ vàng viết về người anh hùng thiếu niên Trần Quốc Toản. Có lẽ bởi vì Trần Quốc Toản chính là tấm bia chói lóa lý tưởng cách mạng, tấm lòng nồng nàn yêu nước, đó chính là thứ cần đó giúp lớp lớp thế hệ mầm non tương lai dựa vào. Tác giả còn khẳng định tác phẩm như một thiên truyện giáo dục, nâng cao ý thức của trẻ thơ về lịch sử nước nhà, tạo sự gắn kết, bồi đắp thêm tấm lòng biết ơn ông cha, yêu thương đất nước cho các em nhỏ. 2. Bối cảnh Tác phẩm lấy bối cảnh cuộc chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ hai của nhà Trần, cuộc chiến gay go và khốc liệt nhất. 2. Nhân vật Hoài Văn Tuy tuổi đời còn trẻ nhưng tính cách quyết đoán, gan dạ và khí phách anh hùng dòng dõi nhà Trần của Hoài Văn Hầu Trần Quốc Toản đã được bộc lộ rõ qua từng suy nghĩ, hành động, cử chỉ. - Giấc mơ của Trần Quốc Toản: Mơ thấy mình bắt sống được tên sứ thần hống hách Sài Thung của nhà Nguyên => báo hiệu cho một người có ý chí phi thường, dù tuổi còn nhỏ, nhưng đã nhận thức được sứ mệnh của mình, ngay cả trong mơ cũng muốn giết giặc để mang hòa bình về cho đất nước - Khi biết tin vua Trần Nhân Tông tới bến Bình Than họp bàn việc nước: + Cưỡi ngựa đi suốt một đêm với mong muốn được gặp nhà vua. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:17
  18. + Thấy đám quân Thánh Dực đang canh gác ngoài bến tàu, to gan chạy đến, xô ngã mấy người lính, liều mình chạy lại quỳ xuống trước mặt nhà vua mà nói 2 tiếng: “Xin đánh” + Tuy vua rất vừa ý, nhưng vì tuổi còn nhỏ nên chàng chỉ được vua ban cho cam quý, còn về việc nước thì vẫn không được vua cho dự => cảm thấy rất ấm ức, thất vọng, vừa hờn vừa tủi, nghiến chặt răng, bóp nát cam trong tay. => Luôn nung nấu ý trí giểt giặc. Chàng quyết tâm học tập binh thư, rèn luyện võ nghệ vơi tinh thần sục sôi tràn đầy nhiệt huyết. - Lá cờ mang sáu chữ vàng “Phá cường địch, báo hoàng ân” được mẹ thêu => chiêu mộ rất nhiều tráng sĩ gần xa. - Quân giặc kéo đến nước nhà: Không chần chừ gì, Trần Quốc Toản và quân sĩ đã cùng nhau anh dũng lên đường đánh giặc - Trận đánh ở của Hàm Tử: Anh dũng, hiên ngang chiến đấu. VIẾT BÀI VĂN KỂ LẠI MỘT CHUYẾN ĐI Dàn ý viết bài văn kể lại một chuyến đi 1. Mở bài • Giới thiệu khái quát về chuyến tham quan di tích lịch sử, văn hóa. • Bày tỏ cảm xúc của em khi được trực tiếp tham gia chuyến đi. 2. Thân bài - Kể lại cụ thể diễn biến của chuyến tham quan (trên đường đi, lúc đến điểm tham quan, trình tự các điểm đến thăm, những hoạt động chính trong chuyến đi ). - Thuyết minh, miêu tả và nêu ấn tượng của em về những nét nổi bật của di tích lịch sử, văn hóa đó (thiên nhiên, con người, công trình kiến trúc ) 3. Kết bài Nêu cảm xúc, suy nghĩ của em về chuyến tham quan, di tích lịch sử văn hóa. Viết bài văn kể lại một chuyến đi Những chuyến đi giúp con người có thêm nhiều trải nghiệm. Chúng ta sẽ tích lũy thêm được những kiến thức mới mẻ, quen được nhiều người bạn mới. Từ đó, cuộc sống sẽ trở nên thú vị, hạnh phúc hơn. Tôi cũng có một chuyến đi như vậy. Chủ nhật tuần này, tôi và chị Thu đã đến thăm Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Hai chị em đã bắt xe buýt từ nhà đến bảo tàng mất khoảng một tiếng. Bước qua cánh cổng bảo tàng, tôi nhìn thấy một khối nhà mái vòm rất lớn. Phía trên có in một dòng chữ bằng đá rất nổi bật: “Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam”. Chị Thu đã đi mua vé tham quan. Sau đó, chúng tôi đã đi tham quan bảo tàng theo sơ đồ hướng dẫn. Bảo tàng được chia làm ba khu trưng bày chính: tòa nhà Trống Đồng, khu trưng bày ngoài trời (Vườn Kiến trúc) và tòa Cánh diều (khu trưng bày Đông Nam Á). Hai chị em lần lượt tham quan các khu trưng bày. Điểm đến đầu tiên là tòa nhà Trống Đồng là nơi trưng bày, giới thiệu bản sắc năm mươi tư dân tộc. Tại đây có khoảng nhiều hiện vật, thước phim và hình ảnh miêu tả đời sống sinh hoạt, trang phục, y phục, nông cụ và tôn giáo tín ngưỡng cũng như các tục lệ của đồng bào dân tộc. Sau khi ra khỏi tòa nhà Trống Đồng, chúng tôi nhìn thấy một khoảng sân lớn, đó chính khu trưng bày ngoài trời. Tôi đã được chiêm ngưỡng những kiến trúc độc đáo của người nhiều dân tộc nhà rông của người Ba-na, nhà sàn dài của người Ê-đê, nhà sàn của người Tày, nhà nửa sàn nửa đất của người Dao, nhà trệt lợp ván pơmu của người H'mông, nhà ngói của người Việt, nhà sàn thấp của người Chăm, nhà trình tường của người Hà Nhì, nhà mồ tập thể của người Giarai và nhà mồ cá nhân của người Cơtu Hai chị em đã chụp khá nhiều bức ảnh kỉ niệm cùng với những ngôi nhà sàn độc đáo này. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:18
  19. Cuối cùng là khu trưng bày Đông Nam Á. Tòa nhà này gồm có bốn tầng được mô phỏng theo hình Cánh diều. Nơi đây thường trưng bày về các văn hóa ngoài Việt Nam (Văn hóa Đông Nam Á, Tranh kính Indonesia, Một thoáng châu Á và Vòng quanh thế giới). Kết thúc một ngày tham quan rất bổ ích. Tôi đã có rất nhiều trải nghiệm thú vị. Không chỉ vậy, tôi còn biết thêm nhiều kiến thức bổ ích. Tôi mong rằng mình sẽ có thêm nhiều chuyến đi như vậy hơn. Viết bài văn kể lại một chuyến đi 2 “Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba” Bài ca dao đã nhắc nhở mỗi người dân Việt Nam về lòng biết ơn với các vua Hùng. Vừa qua, tôi đã được đến thăm đền Hùng cùng bố mẹ. Sáu giờ sáng, bố đã đánh thức tôi dậy. Mọi người cùng ăn sáng, sau đó chờ xe đến đón. Chuyến đi khởi hành vào lúc bảy giờ. Xe đi khoảng gần hai tiếng thì đến nơi. Tôi theo bố mẹ đi thăm quan đền Hùng. Đền Hùng là Khu Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt nằm trên núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Từ cổng chính đi lên là Đền Hạ, theo truyền thuyết đây là nơi bà Âu Cơ sinh một bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con tạo thành sức mạnh dân tộc Việt Nam. Lên nữa là Đền Trung nơi các vua Hùng bàn việc nước với các Lạc hầu, Lạc tướng và trên đỉnh núi là Đền Thượng với bốn chữ vàng “Nam Việt Triệu Tổ” (Tổ muôn đời nước Việt Nam). Đây là nơi Vua Hùng thờ Thánh Gióng và làm lễ tế trời đất cầu mưa gió thuận hòa, mùa màng tươi tốt, muôn dân ấm no. Cạnh Đền Thượng là ngôi Lăng nhỏ thường gọi là mộ Tổ mang ý nghĩa tượng trưng. Từ Lăng đi xuống về hướng Đông, dưới chân núi là Đền Gióng nơi xưa hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa con Vua Hùng thứ 18 soi gương nước trang điểm, vì thế giếng còn có tên là Giếng Ngọc. Giếng ấy nay ở trong lòng đền. Qua mỗi điểm, tôi và bố mẹ lại dừng chân để thắp hương, với mong muốn bày tỏ lòng thành kính. Cũng có rất nhiều người cũng giống như chúng tôi vậy. Có thể thấy rằng, khu di tích lịch sử Đền Hùng đã để lại những giá trị về văn hóa, kiến trúc, tâm linh. Nơi đây cũng gợi nhắc con người hướng tới truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” quý giá của dân tộc Việt Nam. Tôi càng cảm thấy tự hào về đất nước của mình nhiều hơn. Chuyến tham quan di tích lịch sử, văn hóa đền Hùng đã giúp tôi có thêm trải nghiệm quý giá. Tôi cũng thêm trân trọng và biết ơn các vua Hùng và ý thức được trách nhiệm giữ gìn truyền thống biết ơn của dân tộc. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:19