Đề kiểm tra cuối học kì I môn Toán + Tiếng Việt Lớp 4 - Năm học 2024-2025 - Trường Tiểu học Việt Tiến (Có đáp án + Ma trận)

docx 16 trang vuhoai 18/08/2025 200
Bạn đang xem tài liệu "Đề kiểm tra cuối học kì I môn Toán + Tiếng Việt Lớp 4 - Năm học 2024-2025 - Trường Tiểu học Việt Tiến (Có đáp án + Ma trận)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docxde_kiem_tra_cuoi_hoc_ki_i_mon_toan_tieng_viet_lop_4_nam_hoc.docx

Nội dung text: Đề kiểm tra cuối học kì I môn Toán + Tiếng Việt Lớp 4 - Năm học 2024-2025 - Trường Tiểu học Việt Tiến (Có đáp án + Ma trận)

  1. Số báo danh : ............. Người coi Người chấm Phòng thi số :.............. BÀI KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I ( Kí và ghi tên ) ( Kí và ghi tên ) NĂM HỌC 2024 – 2025 Điểm : ......................... Môn Toán - Lớp 4 (Thời gian làm bài : 40 phút ) ~~~~~~~~~~~~~~~~~~ Bằng chữ :..................... Phần 1. Trắc nghiệm (4 điểm) Khoanh tròn vào chữ cái đặt trước câu trả lời đúng hoặc làm theo yêu cầu: Câu 1. (0,5 điểm) Số gồm: 8 triệu, 6 trăm nghìn, 3 chục nghìn, 4 trăm, 7 đơn vị là: A. 8 630 470 B. 8 360 427 C. 8 630 407 D.6 803 427 Câu 2. (0,5 điểm) Giá trị của chữ số 9 trong số 693 457 là: A. 900 000 B. 90 000 C. 9 000 D. 9 000 Câu 3. (0,5 điểm) Khoanh tròn chữ cái trước dãy số tự nhiên: A. 0,1,2,3,4,5. B. 1,2,3,4,5, C. 1,2,3,4,5. D. 0,1,2,3,4,5, . Câu 4. (0,5 điểm) Số thích hợp vào chỗ chấm 8 tạ 5 yến= .yến là: A. 805 B. 85 C. 850 D. 8005 Câu 5. (0,5 điểm) Viết tiếp vào chỗ chấm cho thích hợp. Khởi nghĩa của Lý Bí năm 544, Lý Nam Đế xưng vương, đặt tên nước là Vạn Xuân. Năm đó thuộc thế kỉ ................. Câu 6. (0,5 điểm) Làm tròn số 367 235 đến hàng trăm nghìn ta được số: A. 370 000 B. 375 000 C. 300 000 D. 400 000 Câu 7. (1 điểm) Điền số thích hợp vào chỗ chấm. Trong hình bên có: ................... góc nhọn. ................... góc vuông. ................... góc tù. ................... góc bẹt. 1
  2. ................... cặp cạnh song song. Phần 2. Tự luận (6 điểm) Câu 8. Đặt tính rồi tính. (2 điểm) 362 390 + 523 400 420 578 + 89 403 14 399 x 3 828 435 : 5 ......................................................................................................................................... ......................................................................................................................................... ........ ............................................................................................................................................. ......................................................................................................................................... .... Câu 9. Điền số thích hợp vào chỗ trống: (1 điểm) a) 4 tấn 5 kg = .kg b) 42 m = .cm c) 3 giờ 48 phút = . phút d) 15m2 19dm2 = dm2 Câu 10. (2 điểm) Mẹ đem ra chợ bán 80 quả trứng gà và trứng vịt, trong đó quả trứng gà nhiều hơn trứng vịt 10 quả. Hỏi mẹ đem ra chợ bán bao nhiêu quả trứng gà, bao nhiêu quả trứng vịt? Bài giải ......................................................................................................................................... ......................................................................................................................................... ........ ............................................................................................................................................. ......................................................................................................................................... ......................................................................................................................................... ........ Câu 11. (0,5 điểm). Tính bằng cách thuận tiện nhất: 125 x 3 + 125 x 2 + 125 x 5 ......................................................................................................................................... ......................................................................................................................................... ........ .............................................................................................................................................
  3. Câu 12. (0,5 điểm). Điền số thích hợp vào chỗ chấm: 12m2 ?m2 Khu đất hình chữ nhật được chia thành 4 mảnh gồm: 1 mảnh 2 hình vuông lớn có diện tích 36m , 1 mảnh nhỏ hình chữ nhật; 2 36m2 18m2 mảnh hình chữ nhật có diện tích là 12m2 và 18m2. (như hình vẽ). Diện tích của mảnh đất nhỏ hình chữ nhật là . . ĐÁP ÁN VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI TOÁN 4 Phần 1. Trắc nghiệm( 4 điểm) Câu 1 Câu 2 Câu 3 Câu 4 Câu 5 Câu 6 C B D A VI (6) D Câu 7. 3 góc nhọn, 3 góc vuông, 2 góc tù, 1 góc bẹt, 1 cặp cạnh song song. (mỗi phần trả lời đúng được 0,2 điểm) Phần 2. Tự luận (6 điểm) Câu 8. – Mỗi phép tính đặt tính và tính đúng được 0,5 điểm - Đặt tính đúng, tính sai được 0,2 điểm - Đặt tính sai, tính đúng không có điểm Câu 9. Mỗi câu điềm đúng được 0,25 điểm a) 4 tấn 5 kg = 4005. kg b) 42 m = 420 cm c) 3 giờ 48 phút = 228 phút d) 15m2 19dm2 = 1519dm2 Câu 10: (2 điểm) Bài giải Số trứng gà mẹ mang ra chợ bán là: (80 + 10 ) : 2 = 45 ( quả ) 0,75 điểm Số trứng vịt mẹ mang ra chợ bán là: 80 - 45 = 35 ( quả ) 0,75 điểm Đáp số: 45 ( quả ) 0,25 điểm 35 ( quả ) 0,25 điểm Câu 11: (1 điểm) a. 125 x 3 + 125 x 2 + 125 x 5 b.
  4. = 125 x ( 3 + 2 + 5 ) (0,2đ) Diện tích mảnh đất nhỏ hình chữ nhật là: 6 2 = 125 x 10 (0,2đ) m = 1250 (0,1đ) MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA TOÁN 4 Số câu Mức 1 Mức 2 Mức 3 Tổng Mạch kiến Câu số thức Số điểm TN TL TN TL TN TL TN TL Số câu 4 1 1 1 4 3 1. Số và phép Câu số 1,2,3,6,8 10 11 1,2,3,6 10,11 tính Số 4 2 0,5 4 2,5 điểm Số câu 1 2 1 1 2. Hình học và Đo lường Câu số 7 4,5 9 12 4,5,7,12 9 Số 1 2 1 0,5 2 1,5 điểm Tổng số câu 6 câu 5 câu 2 câu 4 câu 4 câu Tổng số 5,0 điểm 4 điểm 1 điểm 4 điểm 6 điểm điểm Tỉ lệ % 50% 40% 10% 40% 60%
  5. Số báo danh : ............. Người coi Người chấm Phòng thi số :.............. BÀI KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I (Kí và ghi tên) (Kí và ghi tên) NĂM HỌC 2024 – 2025 Điểm : ......................... Môn Tiếng Việt - Lớp 4 Bằng chữ :..................... (Thời gian làm bài : 60 phút ) ~~~~~~~~~~~~ A. KIỂM TRA ĐỌC (10 điểm) I. Kiểm tra đọc thành tiếng: (3 điểm) Học sinh bắt thăm 1 trong các bài sau và trả lời câu hỏi: 1. Bài: Mảnh sân chung Hai gia đình chung mảnh sân nhỏ bé. Không có nết vạch nào chia đôi cái sân, nhưng thường mỗi sáng đều thấy cái sân được phân chia khá rõ: Bên nhà Thuận đã quét sạch phần sân của mình từ sáng sớm, còn nhà Liên thì lá rụng đầy, mãi đến chiều tối Liên mới quét. Sáng thứ Hai đầu tuần, Thuận xách chổi ra quét sân. Quét sạch phần bên nhà mình, Thuận đúng lại ngắm nghĩa. Bỗng Thuận thấy bực bực vì cái sân chia hai nửa. Thuận quét luôn nửa bên kia. Cả mảnh sân sạch bong. Mệt thêm chút, nhưng Thuận thấy rất hài lòng. Sáng hôm sau, Thuận dậy sớm, lại quét luôn cả cái sân, hết sức thoải mái và thích thú. Theo HOÀNG ANH ĐƯỜNG Câu hỏi: Em hiểu vì sao cái sân chung như được chia thành hai nửa? Trả lời: Em hiểu cái sân chung như được chia thành hai nửa vì bên nhà Thuận thì đã quét sạch còn nhà Liên thì chưa. 2. Bài: Những hạt thóc giống Ngày xưa, có một ông vua cao tuổi muốn tìm người nối ngôi. Vua ra lệnh phát cho mỗi người dân một thúng thóc về gieo trồng và giao hạn: Ai thu được nhiều thóc nhất sẽ được truyền ngôi, ai không có thóc nộp sẽ bị trừng phạt. Có một chú bé mồ côi tên là Chôm nhận thóc về, dốc công chăm sóc mà thóc vẫn chẳng nảy mầm. Đến vụ thu hoạch, mọi người nô nức chở thóc về kinh thành nộp cho nhà vua. Chôm lo lắng đến trước vua, quỳ tâu: - Tâu Bệ hạ! Con không làm sao cho thóc này nảy mầm được. Mọi người đều sững sờ khi nghe Chôm nói. Nhưng nhà vua đã đỡ chú bé đứng dậy. Ngài hỏi còn ai để chết thóc giống không. Không ai trả lời. Lúc đó, nhà vua mới ôn tồn nói: - Trước khi phát thóc giống, ta đã cho luộc kĩ rồi. Lẽ nào thóc ấy còn mọc được? Những xe thóc đầy ắp kia đâu phải thu được từ thóc giống của ta! Rồi vua dõng dạc nói tiếp:
  6. - Trung thực là đức tính quý nhất của con người. Ta sẽ truyền ngôi cho chú bé trung thực và dũng cảm này. Chôm được truyền ngôi và trở thành ông vua hiền minh. Câu hỏi: Nhà vua tìm người nối ngôi bằng cách nào? Trả lời: Nhà vua tìm người nối ngôi bằng cách phát cho mỗi người dân một thúng thóc giống đã được luộc kĩ và giao hẹn: ai thu được nhiều thóc sẽ được truyền ngôi báu, ai không có thóc nộp sẽ bị trừng phạt. 3. Bài: Những trang sách tuổi thơ Ba tôi đi làm xa nên những câu chuyện đầu tiên tôi nghe được là từ bà nội và chú tôi. Bà kể tôi nghe chuyện “Tấm Cám”, “Thạch Sanh”, “Cây tre trăm đốt”, “Đôi hài bảy dặm”, .Chú tôi lại thích kể chuyện “Tôn Ngộ Không” và một số chuyện trong “Nghìn lẻ một đêm”. Bà và chú kể mãi cũng hết chuyện. Từ khi nghe chú tôi mách những câu chuyện đó và vô số những câu chuyện tương tự được viết trong các cuốn sách, tôi cố gắng học chữ để có thể tự mình khám phá thế giới kì diệu kia. Bảy tuổi, tôi mê mẩn với những cuốn sách ba tôi mua về. Tám, chín tuổi tôi đã mày mò đọc hết rương truyện Trung Hoa của ông thợ hớt tóc trong làng. Rồi tôi tìm đến “Không gia đình”, “Những người khốn khổ”, Tôi khóc cười qua những trang sách, ngạc nhiên thấy mình trải qua những cảm xúc mà trên thực tế tôi chưa đủ lớn để trải nghiệm ngoài đời. Sách đã bồi đắp tâm hồn, làm giàu có và làm trưởng thành tình cảm một đứa bé, mài sắc một cách tự nhiên các ý niệm đạo đức qua sự yêu ghét với người hiền kẻ ác và đặc biệt mở rộng đến vô biên bờ cõi của trí tưởng tượng. Câu hỏi: Bài đọc trên là lời kể của ai? Trả lời: Bài đọc trên là lời kể của bạn nhỏ. 4. Bài: Ba nàng công chúa Vua San-ta có ba nàng công chúa rất xinh đẹp và giỏi giang. Năm ấy, đất nước có giặc ngoại xâm mà vua tuổi đã cao, sức đã yếu. Ba nàng công chúa cùng nhau đến xin vua cha cho ra trận nhưng đức vua khoát tay, bảo: - Các con mảnh mai như thế thì làm được gì nào? Ba nàng công chúa lẳng lặng từ biệt cha. Đến nơi bị giặc bao vây, công chúa cả ôm đàn lên mặt thành, bắt đầu hát. Nàng hát những làn điệu dân ca với giọng ấm áp, mê hồn. Lính giặc sửng sốt rồi chẳng ai bảo ai cùng hạ vũ khí, ngây người lắng nghe. Công chúa chuyển sang một điệu dân vũ, tất cả đều nhảy múa và hát theo. Đêm xuống, công chúa út thay chị kể chuyện cho lính giặc nghe. Đó là chuyện mẹ già tựa cửa mong con, người vợ, người con vắng chồng, vắng cha, đang lam lũ vất vả nơi quê nhà, Câu chuyện của nàng khiến toàn bộ lính giặc muốn lập tức trở về quê hương.
  7. Hôm sau, tướng giặc đành đầu hàng và xin đức vua cấp thêm ngựa xe, lương thực để chúng rút quân. Nhưng kho lương đã cạn, ngựa cũng đã chết gần hết. Biết làm sao đây! Lúc đó, công chúa hai vung bút vẽ hàng đoàn xe ngựa nối đuôi nhau. Nàng chấm bút vào mắt từng con ngựa. Lập tức, cả đoàn ngựa hí vang, những cỗ xe lương thực lăn bánh trước con mắt kinh ngạc của mọi người. Tiếng đồn về ba nàng công chúa bay đi rất xa. Đức vua rất tự hào về ba cô con gái, còn các vương quốc láng giềng thì từ đó sống với nhau rất thân ái, chan hòa. Câu hỏi Tìm những chi tiết nói lên quyết tâm bảo vệ đất nước của ba nàng công chúa. Trả lời: Ba nàng công chúa xin vua cha cho ra trận, lẳng lặng từ biệt cha. 5. Bài: Ba nàng công chúa Vua San-ta có ba nàng công chúa rất xinh đẹp và giỏi giang. Năm ấy, đất nước có giặc ngoại xâm mà vua tuổi đã cao, sức đã yếu. Ba nàng công chúa cùng nhau đến xin vua cha cho ra trận nhưng đức vua khoát tay, bảo: - Các con mảnh mai như thế thì làm được gì nào? Ba nàng công chúa lẳng lặng từ biệt cha. Đến nơi bị giặc bao vây, công chúa cả ôm đàn lên mặt thành, bắt đầu hát. Nàng hát những làn điệu dân ca với giọng ấm áp, mê hồn. Lính giặc sửng sốt rồi chẳng ai bảo ai cùng hạ vũ khí, ngây người lắng nghe. Công chúa chuyển sang một điệu dân vũ, tất cả đều nhảy múa và hát theo. Đêm xuống, công chúa út thay chị kể chuyện cho lính giặc nghe. Đó là chuyện mẹ già tựa cửa mong con, người vợ, người con vắng chồng, vắng cha, đang lam lũ vất vả nơi quê nhà, Câu chuyện của nàng khiến toàn bộ lính giặc muốn lập tức trở về quê hương. Hôm sau, tướng giặc đành đầu hàng và xin đức vua cấp thêm ngựa xe, lương thực để chúng rút quân. Nhưng kho lương đã cạn, ngựa cũng đã chết gần hết. Biết làm sao đây! Lúc đó, công chúa hai vung bút vẽ hàng đoàn xe ngựa nối đuôi nhau. Nàng chấm bút vào mắt từng con ngựa. Lập tức, cả đoàn ngựa hí vang, những cỗ xe lương thực lăn bánh trước con mắt kinh ngạc của mọi người. Tiếng đồn về ba nàng công chúa bay đi rất xa. Đức vua rất tự hào về ba cô con gái, còn các vương quốc láng giềng thì từ đó sống với nhau rất thân ái, chan hòa. Câu hỏi: Vì sao vua cha không muốn cho các con gái ra trận? Trả lời: Vì các cô con gái mảnh mai sẽ không làm được gì. 6. Bài : Kỉ niệm xưa Ngôi nhà cũ của ông bà nội tôi nằm giữa một khu vườn rộng. Tôi nhớ mãi về căn nhà nhỏ này, nơi lưu giữ tuổi thơ yêu dấu. Ngôi nhà khung gỗ, có những cột lim lên nước đen bóng. Trong ngôi nhà mát lịm, ông nội tôi hay ngồi sau án thư bên cửa sổ bắt mạch, kê đơn, châm cứu và bốc thuốc. Mỗi khi ông làm việc, chị em chúng tôi lại kéo nhau ra vườn chơi.
  8. Trò chơi các chị tôi chơi mãi không chán là bán hàng. Các chị lấy dây tơ hồng mọc trên hàng rào cây cúc tần, cắt khúc ngắn để giả làm bún, phở, lấy lá râm bụt nấu canh. Còn tôi, bé nhất hội, bán bánh đa làm từ khoai lang luộc. Tiếng mời chào, tiếng khen ngon, kêu nóng râm ran cả một góc vườn. Khác với bọn con gái, lũ con trai – là anh Hải, con bác tôi và Sơn, Hữu – con cô tôi lại khoái trò chơi đánh trận. Anh Hải lớn nhất trong các anh chị em, luôn luôn nhận là tổng chỉ huy. Ba an hem đánh nhau tít mù khiến lá cây rơi lả tả. Thường là đến phần bất phân thắng bại thì ông nội thò đầu ra cửa sổ, quát to: “Nghịch vừa vừa thôi!” Sau này, khi đã khôn lớn, chị em chúng tôi vẫn thân thiết với nhau như hồi thơ bé. Chúng tôi hay ngồi nhắc lại những trò chơi thuở nhỏ và mảnh vườn xưa yêu dấu của ông bà nội. Phải chăng bởi những kỉ niệm thơ bé ấy mà tình chị em con cô con cậu của chúng tôi vẫn bền chặt mãi qua thời gian. Câu hỏi: Khung cảnh ngôi nhà xưa của ông bà nội được miêu tả như thế nào? Trả lời: Khung cảnh ngôi nhà xưa của ông bà nội được miêu tả ngôi nhà khung gỗ có những cột gỗ lim lên nước đen bóng. 7) Bài: Nhà bác học của đồng ruộng Lương Định Của là nhà nông học xuất sắc và là cha đẻ của nhiều giống cây trồng mới. Rất nhiều sản phẩm nông nghiệp được nông dân gắn liền với tên của ông một cách thân thiết: dưa ông Của, cà chua ông Của, lúa ông Của, Còn bạn bè trìu mến gọi ông là “nhà bác học của đồng ruộng”. Là viện trưởng một viện nghiên cứu nhưng Lương Định Của vẫn làm việc trong một căn phòng rất đơn sơ. Ngoài giờ lên lớp, ông thường xắn quần, lội trên những cánh đồng thí nghiệm. Ông là người đầu tiên ứng dụng một cách sáng tạo các kĩ thuật canh tác của nước ngoài vào việc trồng lúa ở Việt Nam như: cấy chăng dây thẳng hàng, cấy ngửa tay để cây lúa không bị ngập quá sâu xuống bùn, . Có lần, một người bạn nước ngoài gửi cho viện nghiên cứu của ông mười hạt thóc giống quý. Giữa lúc ấy, trời rét đậm. Ông Của bảo: “Không thể để những hạt giống quý này nảy mầm rồi chết vì rét.” Ông chia mười hạt thóc giống làm hai phần. Năm hạt, ông gieo trong phòng thí nghiệm. Năm hạt còn lại, ông ngâm nước ấm, gói vào khăn, tối tối ủ trong người, trùm chăn ngủ để hơi ấm của cơ thể làm thóc nảy mầm. Sau đợt rét kéo dài, chỉ có năm hạt thóc ông Của ủ trong người là giữ được mầm xanh. Ông Lương Định Của không còn nữa nhưng những giống cây ông để lại và tên tuổi của ông vẫn còn khắc sâu trong tâm trí của người dân Việt Nam. Ông đã được nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Huân chương Lao động hạng Nhất và Giải thưởng Hồ Chí Minh. Câu hỏi: Tìm trong đoạn 1 những tên gọi thể hiện sự đánh giá đối với tài năng và đóng góp của ông Lương Định Của. Trả lời: Những tên gọi thể hiện sự đánh giá đối với tài năng và đóng góp của ông Lương Định Của: nhà nông học xuất sắc, cha đẻ của nhiều giống cây trồng mới, nhà bác học của đồng ruộng.
  9. 8. Bài: Theo đuổi ước mơ Ca-tơ-rin là một cô bé cực kì thích đếm. Cô đếm số bước chân đi trên đường. Cô đếm số đĩa bát khi rửa. Và khi nhìn lên bầu trời, Ca-tơ-rin luôn tự hỏi: “Cần bao nhiêu bước để có thể lên được Mặt Trăng?”. Cô nhủ thầm: “Nhất định sẽ có ngày mình tính được cách lên Mặt Trăng, nhất định như vậy!”. Niềm mơ ước ấy khiến Ca-tơ-rin say mê với môn Toán, đặc biệt là hình học. Ca-tơ- rin có thể giải được những bài toán vô cùng hóc búa. Bạn bè âu yếm gọi cô là “chuyên gia toán học”. Năm 34 tuổi, Ca-tơ-ri lúc đó đang là một giáo viên – đọc được thông tin về việc tổ chức NASA tuyển người để giải các bài toán. Ca-to-rin lập tức nộp đơn vì cô nghĩ đó có thể là con đường để đạt được ước mơ từ thời thơ ấu của mình. Nhưng ở lần nộp đơn đầu tiên, Ca-tơ-ri bị từ chối. Không bỏ cuộc, năm sau, Ca-tơ-ri lại nộp đơn và lần này cô được nhận. Những nỗ lực không ngừng đã giúp cô trở thành thành viên trong dự án không gian của NASA. Năm 1962, Hoa Kì quyết định đưa người lên Mặt Trăng. Đó là một thử thách cực kì lớn đối với loài người. Với niềm mơ ước được ấp ủ từ nhỏ và năng lực tuyệt vời, Ca- tơ-ri đã sử dụng toán học để tìm ra các con đường cho tàu vũ trụ quay quanh Trái Đất và hạ cánh trên Mặt Trăng. Những tính toán của Ca-tơ-ri thật sự hoàn hảo, đã góp phần đứa các phi hành gia lên Mặt Trăng rồi quay trở lại Trái Đất an toàn. Ca-tơ-ri làm việc ở NASA hơn 30 năm. Khi nghỉ hưu, bà thường đến các trường học để nói chuyện với học sinh. Thông điệp lớn nhất mà Ca-to-ri gửi tới các em là: “Đừng bao giờ từ bỏ giấc mơ của bạn!”. Câu hỏi: Thuở nhỏ, Ca-tơ-rin mơ ước điều gì? Trả lời: Thuở nhỏ, Ca-tơ-rin mơ ước tính được cách lên Mặt Trăng. II. ĐỌC HIỂU (7 điểm) a). Đọc thầm câu chuyện sau: HẠT TÁO ĐÃ NẢY MẦM Cô bé đem hạt táo đẹp nhất gieo vào chiếc chậu đất ngoài ban công, thầm ước ao từ đó sẽ mọc lên một cây táo. Cô yêu màu hoa táo trắng và chùm quả lúc lỉu xanh biết mấy. Cô bé tưới nước cho chậu đất mỗi ngày với niềm tin chắc chắn rằng ở đó sẽ mọc lên một cây táo. Một tuần rồi một tháng trôi qua, chậu đất vẫn im lìm, không có cây nào mọc lên cả. Có lẽ hạt táo chỉ nảy mầm được ở cánh đồng nhiều nắng gió. Nhưng cô bé vẫn không thôi mơ mộng về một cây táo có hoa trắng và chùm quả xanh xuất hiện ở ban công nhà mình. Mỗi sáng cô bé thì thầm trước chậu đất: “Hạt táo đang ngủ, mình sẽ tưới nước mỗi ngày để hạt táo thức dậy.”. Rồi một buổi sáng, có tiếng reo vui ngoài ban công của cô bé: “Chào bạn táo!”
  10. Vậy là cây táo đã nảy mầm với hai chiếc lá bé xíu non xanh. Rồi cây táo sẽ lớn lên, sẽ cho những chùm hoa táo trắng muốt, những trái táo căng mọng trĩu cành Mầm cây bé nhỏ ấy là bằng chứng rõ ràng cho một niềm tin: gieo hạt lành, ắt sẽ được quả thơm. Chào mầm cây bé nhỏ đã đến nơi này, đợi ngày nở hoa để đáp lại niềm tin hồn nhiên của cô bé. b) Khoanh vào chữ đặt trước câu trả lời đúng nhất hoặc làm theo yêu cầu của bài tập Câu 1: Cô bé đem hạt táo đẹp nhất gieo vào đâu? A. Thùng xốp ngoài vườn. B. Chậu đất ngoài ban công. C. Hộp nhựa trong nhà. D. Thùng gỗ trong nhà. Câu 2: Cô bé ước ao điều gì khi gieo hạt táo? A. Cây táo lớn thật nhanh. B. Cây táo sai trĩu quả. C. Một cây táo sẽ được mọc lên. D. Cây táo sẽ cho những chùm quả thơm ngọt, cô bé ao ước được ăn quả táo. Câu 3: Những chi tiết nào cho thấy cô bé rất hi vọng hạt táo sẽ nảy mầm? A. Cô bé tưới nước cho chậu đất mỗi ngày với niềm tin chắc chắn rằng ở đó sẽ mọc lên một cây táo. B. Khi một tuần trôi qua mà không có cây nào mọc lên, cô bé vẫn không thôi mơ mộng về một cây táo có hoa trắng và chùm quả xanh xuất hiện ở ban công nhà mình. C. Mỗi sáng cô bé thì thầm trước chậu đất: "Hạt táo đang ngủ, mình sẽ tưới nước mỗi ngày để hạt táo thức dậy". D. Tất cả đáp án trên. Câu 4: Hình ảnh cây táo trong tưởng tượng của cô bé có gì đẹp? A. Cây táo lớn lên cho cô bóng mát để cô có thể chơi thỏa thích ở ban công. B. Cây táo sẽ lớn lên, sẽ cho những chùm hoa trắng muốt, những trái táo căng mọng trĩu cành. C. Cây táo sẽ cho cô những trái táo ngon lành. D. Cây táo có thể bầu bạn cùng cô bé. Câu 5: Nội dung của bài đọc là gì? A. Miêu tả cây táo cô bé trồng. B. Kể về quá trình gieo trồng hạt táo của cô bé, đồng thời thể hiện tình yêu của cô bé đối với cây táo. C. Miêu tả hạt táo nảy mầm.
  11. D. Kể về quá trình trưởng thành của cây táo mà cô bé gieo trồng. Câu 6: Qua bài đọc, tác giả muốn nói điều gì? Câu 7: Câu dưới đây sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Rồi một buổi sáng, có tiếng reo vui ngoài ban công của cô bé: “Chào bạn táo!”. A. So sánh. B. Nhân hóa. C. Ẩn dụ. D. Hoán dụ. Câu 8: Tìm tính từ chỉ màu sắc trong câu dưới đây? Cô yêu màu hoa táo trắng và chùm quả lúc lỉu xanh biết mấy. A. Xanh, trắng. B. Hoa táo, trắng. C. Chùm quả, lúc lỉu. D. Chùm quả, xanh. Câu 9: Gạch 1 gạch dưới danh từ, 2 gạch dưới động từ trong câu văn sau: Hạt táo đang ngủ, mình sẽ tưới nước mỗi ngày để hạt táo thức dậy. Câu 10: Đặt 1 câu kể, tả về một hiện tượng tự nhiên, trong đó có sử dụng biện pháp nhân hóa? III. VIẾT( 10 điểm) Đề bài: Em hãy miêu tả một con vật mà em đã chăm sóc và gắn bó.
  12. ĐÁP ÁN VÀ BIỂU ĐIỂM MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 4 Kiểm tra cuối học kỳ I A. KIỂM TRA ĐỌC (10 điểm) Phần I: Đọc thành tiếng (3,0 điểm) *Bài đọc: - Giáo viên phát phiếu cho học sinh chuẩn bị trước 3 phút. Sau đó, gọi học sinh bốc thăm chọn bài, giáo viên đưa phiếu của mình yêu cầu học sinh đọc trong thời gian 1 phút. - Giáo viên dùng phiếu học sinh để ghi kết quả đánh giá. Tiếng nào học sinh đọc sai, giáo viên gạch chéo (/), cuối cùng tổng hợp lại để tính điểm. - Nội dung chấm cụ thể như sau: *Cách cho điểm: ( Theo bảng sau) Điểm tối đa Nội dung (3,0 đánh giá đọc thành tiếng Yêu cầu điểm) - Tư thế tự nhiên, tự tin. 1. Cách đọc 0,5 điểm - Đọc diễn cảm tốt các văn bản. - Đọc đúng từ, phát âm rõ. 2. Đọc đúng 0,5 điểm - Thể hiện cảm xúc qua nhấn nhá từ ngữ. - 80-90 tiếng/phút. Đọc thầm với tốc độ 0,5 điểm 3. Tốc độ đọc(tiếng/phút) nhanh hơn lớp 3. - Ngắt nghỉ đúng văn phong khác nhau. 4. Ngắt hơi, ngắt nhịp 0,5 điểm - Nhấn nhá tự nhiên theo ngữ cảnh. -Nhấn giọng đúng từ ngữ, thể hiện cảm 5. Đọc diễn cảm 0,5 điểm xúc qua giọng đọc. - Trả lời rõ ràng, ngắn gọn đúng trọng tâm 6. Trả lời câu hỏi nội dung nội dung câu hỏi. 0,5 điểm bài đọc - Ghi chú chi tiết và có lập luận. PHẦN I :Đọc hiểu (7đ) Câu Đáp án Điểm 1 B 0,5 2 D 0,5
  13. 3 B 0,5 4 B 0,5 5 B 6 - Có công chăm sóc, gieo trồng thì sẽ gặt hái được quả ngọt. - Hoặc: Mầm cây là minh chứng rõ ràng cho một niềm tin: gieo hạt lành, ắt sẽ được quả thơm. 1,0 ( HS nói theo cảm nhận nhưng phải phù hợp với nội dung bài đọc) 7 B 1 8 A 1 9 - Danh từ ( 0,25 điểm): hạt táo, mình, ngày, nước 1 - Động từ: (0,25 điểm): ngủ, tưới, thức dậy. 10 - Đặt câu đúng mỗi câu được 0,5 điểm. Nếu đầu câu không 1 điểm viết hoa, cuối câu không có dấu chấm trừ 0,25 điểm. VD: a)- Những chị mây diện những chiếc váy trắng muốt đang bay trên bầu trời xanh cao. - Chị gió nhón nhẹ chân qua làm cây cối đung đưa. - Ánh nắng nhảy nhót khắp cánh đồng. b) Trong giờ sinh hoạt lớp 4A, các bạn đang bàn luận xôn xao về chủ đề cô vừa mới đưa ra. 2. Viết bài văn (10 điểm) - Hình thức: Bài làm đủ 3 phần, không sai chính tả, trình bày đẹp cho 1,5 điểm TT Yêu cầu cần đạt Biểu điểm * Hình thức và kỹ năng 4,0 Đề tài " Con vật" không xa lạ với các em học sinh. Động vật rất gần gũi điểm 1 và quen thuộc, nó gắn bó với con người trong cuộc sống. Tuy nhiên với đề tài này dễ rơi với tình trạng học thuộc theo văn mẫu..... Vì thế đáp án biểu điểm cố gắng sẽ khắc phục tình trạng này. Dưới đây là những định hướng: - Bài viết có dung lượng hợp lý (khoảng 12 – 15 câu), chữ viết sạch đẹp, 1,5 hạn chế tối đa lỗi chính tả, lỗi dùng từ, đặt câu (Không quá 03 lỗi); - Bố cục của bài viết khoa học 3 phần, mở, thân, kết. Trong phần thân 1,5 bài có ý thức tách đoạn theo từng phần đặc điểm hình dáng bên ngoài ,thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con vật... (ít nhất hai đoạn); - Đúng kiểu bài miêu tả con vật, biết sử dụng các từ ngữ gợi tả màu sắc 1,0 ,hình dáng,kích thước, âm thanh,..., có ý thức sử dụng các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hoá trong khi miêu tả. * Cách cho điểm: Mức 1: Đảm bảo đủ, tốt các ý trên cho 4,0 điểm Mức 2: Cơ bản đủ, khá tốt các yêu cầu trên cho 3,5 điểm Mức 3: Đáp ứng 2/3 các yêu cầu trên cho 3,0 điểm
  14. Mức 4: Các trường hợp còn lại cho 2,0 điểm 2 Nội dung 5,0 điểm 1. Mở bài: 0,5 Giới thiệu con vật định tả là con gì, một con hay cả bầy (Con vật đang ở đâu? Em thấy con vật này vào lúc nào?) * Cách cho điểm: Trường hợp đặc biệt mới trừ điểm của HS phần này. 2. Thân bài: Phần thân bài HS miêu tả đặc điểm hình dáng bên ngoài ,thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con vật. 4,0 Sau đây là gợi ý cho HS triển khai các ý của phần thân bài: a. Miêu tả hình dáng bên ngoài: +Tả bao quát: vóc dáng, bộ lông hoặc màu da. +Tả từng bộ phận: đầu (tai, mắt...), thân hình, chân, đuôi. b. Miêu tả tả thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con vật: +Tả một vài biểu hiện về tính nết, thói quen của con vật. +Tả một số hoạt động chính của con vật: bắt mồi, ăn, kêu (gáy, sủa...)... + Chú ý kết hợp tả một vài nét về cảnh hoặc người liên quan đến môi trường sống của con vật. * Cách cho điểm: Không cho cụ thể từng mục trong phần thân bài, đọc nhìn tổng quát phần thân bài cho điểm thành các mức dưới đây: Mức 1: Thân bài biết sử dụng các từ ngữ gợi tả màu sắc ,hình dáng,kích thước, âm thanh,..., có ý thức sử dụng các biện pháp nghệ thuật, lựa chọn những đặc điểm nổi bật của con vật khi miêu tả: cho 4,0 điểm Mức 2: Thân bài miêu tả cơ bản đầy đủ về hình dáng, kích thước và hoạt động của con vật: cho 3,5 đến 3,75 điểm Mức 3: Miêu tả được một số bộ phận của con vật: 3,0 đến 3,25 điểm Mức 4: Miêu tả chưa đủ các đặc điểm ngoại hình, hoạt động, của con vật: cho 2,5 đến 2,75 điểm. Mức 5: Các trường hợp còn lại cho 2,0 đến 2,25 điểm. Chú ý: - Những bài viết theo mẫu, xuất hiện nhiều ở học sinh, bài viết không được đánh giá cao, phần thân bài cho tối đa không quá 3,5 điểm. 3. Kết bài Tình cảm của em với con vật (hoặc suy nghĩ, cảm xúc, điều mong 0,5 muốn,... đối với con vật). * Cách cho điểm: Trường hợp đặc biệt mới trừ điểm của HS phần này. 3 Sáng tạo 1,0 Sử dụng ngôn ngữ mới mẻ, có tính sáng tạo, tránh cách diễn đạt quá 0,5 rập khuôn. Thể hiện được tình cảm riêng biệt của em về con vật. 0,5
  15. II. MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA Mạch Số câu Mức 1 Mức 2 Mức 3 Tổng kiến Số điểm thức TN TL TN TL TN TL TN TL 1. Đọc - hiểu (7 điểm) Đọc hiểu Số câu 04 câu 1 câu 1 câu 1 câu 5 câu 2 câu văn bản Câu 1, Câu số Câu 5 Câu 6 Câu 7 (3,5 điểm) 2,3,4 2,5điểm 1 điểm Số điểm 2 điểm 0,5 điểm 1 điểm 1 điểm Kiến Số câu 01 câu 1 câu 1 câu 1câu 2 câu thức TV Câu số Câu 8 Câu 9 Câu 10 (6,5 điểm) Số điểm 1 điểm 1 điểm 1 điểm 1 điểm 2 điểm Số câu 5 câu 1 câu 2 câu 2 câu 6 câu 4 câu Tổng Số điểm 2,5điểm 0,5 điểm 1 điểm 1 điểm 3 điểm 2 điểm Tỉ lệ% 50% 10% 20% 20% 60% 40% 2. Viết bài văn (10 điểm)