SKKN Đổi mới phương pháp trong việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp Một theo Chương trình GDPT 2018
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "SKKN Đổi mới phương pháp trong việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp Một theo Chương trình GDPT 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
skkn_doi_moi_phuong_phap_trong_viec_ren_ki_nang_doc_cho_hoc.doc
Nội dung text: SKKN Đổi mới phương pháp trong việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp Một theo Chương trình GDPT 2018
- UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN BẢN UBNDMÔ HUYỆNTẢ SÁNG VĨNH BẢO KIẾN TRƯỜNG TIỂU HỌC NHÂN HÒA Tên sáng kiến: “Đổi mới phương pháp trong việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp Một theo Chương trình GDPT 2018” Tác giả: VŨ THỊ THỦY Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Chức vụ: Giáo viên Nơi công tác: Trường Tiểu học Thị Trấn BẢN Huyện MÔ Vĩnh TẢ Bảo SÁNG – TP Hải Phòng KIẾN TÊN SÁNG KIẾN: “Rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 theo chương trình giáo dục phổ thông 2 Ngày 10 tháng 01 năm 2024
- BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN I. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1. Tên sáng kiến: “Đổi mới phương pháp trong việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp Một theo Chương trình GDPT 2018” 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Trường Tiểu học Thị Trấn Vĩnh Bảo 3. Tác giả: Họ và tên: Vũ Thị Thủy Ngày, tháng, năm sinh: 06/10/1990 Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường Tiểu học Thị Trấn Vĩnh Bảo Điện thoại: 0972.321.929 4. Đơn vị áp dụng sáng kiến: Tên đơn vị: Trường Tiểu học Thị Trấn Địa chỉ: Thị trấn Vĩnh Bảo - huyện Vĩnh Bảo - TP Hải Phòng Vĩnh Bảo II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP ĐÃ BIẾT: Chúng ta đang triển khai và thực hiện: “Chương trình Giáo dục phổ thông 2018”. Từ năm học 2020 – 2021 đến nay, mục tiêu của chương trình mới là nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông: kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần cho nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh. Mục tiêu giáo dục tiểu học không chỉ chú ý chuẩn bị cho học sinh những cơ sở ban đầu “cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông” mà còn chú ý yêu cầu “phát triển phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị bản thân, gia đình, cộng đồng và những thói quen, nền nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt”. Như vậy, bậc Tiểu học và đầu tiên là giáo viên lớp 1 cần xác định vai trò, nhiệm vụ trọng trách của mình trước những đòi hỏi đặt ra của cái mới; là người đầu tiên dẫn dắt các em đến với con đường mở ra phía trước đầy khó khăn,
- thách thức song cũng đầy tương lai tốt đẹp. Muốn vậy, chúng ta tiếp tục quan tâm đến chất lượng dạy và học ngay từ lớp đầu đời, sẽ là cái gốc rễ để cho cây phát triển. Và dù chúng ta có thay đổi như thế nào thì việc rèn học sinh 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết vẫn đặt lên hàng đầu ở mỗi môn học, tuy nhiên kỹ năng đọc của các em còn rất hạn chế. Mà ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp vô cùng quan trọng. Kĩ năng đọc là sự khởi đầu giúp cho học sinh chiếm lĩnh một công cụ mới để sử dụng trong học tập và trong giao tiếp. Nếu kĩ năng viết được coi là phương tiện ưu thế nhất trong hệ thống ngôn ngữ thì kĩ năng đọc có một vị trí quan trọng không thiếu được trong chương trình môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học. Cùng với kĩ năng viết, kĩ năng đọc có nhiệm vụ lớn lao là trao cho các em chìa khóa để vận dụng chữ viết trong học tập. Khi biết đọc, biết viết các em có điều kiện nghe lời thầy giảng trên lớp, sử dụng sách giáo khoa, sách tham khảo,... Từ đó có điều kiện học tốt các môn học khác. + Ưu điểm của các giải pháp đã biết Chương trình sách giáo khoa mới năm 2018 có kênh hình, kênh chữ rất đẹp, lôi cuốn học sinh, các từ ngữ, nội dung trong bài được đưa ra đều có nghĩa và được sử dụng trong cuộc sống hằng ngày. Chương trình lớp 1 mới có rất nhiều ưu điểm, học sinh được phát triển kỹ năng nói tốt, các em mạnh dạn, tự tin hơn, được phát triển nhiều kỹ năng. Tất cả học sinh trong lớp cùng thi đua rèn đọc. Nhiều em đọc có tiến bộ, đọc to, rõ ràng, trôi chảy hơn. Tốc độ đọc của các em đã cải thiện rõ rệt. Ngoài những kết quả đạt được như mong muốn, việc rèn đọc còn có tác dụng đem lại hứng thú học tập cho các em. Nhiều em bắt đầu cố gắng nỗ lực và có tính kiên trì chịu khó cao. Bên cạch những ưu điểm trên tôi thấy còn có một số tồn tại bất cập sau. + Bên cạnh đó còn tồn tại, bất cập của các giải pháp đã biết - Trình độ học sinh trong lớp không đồng đều. Bên cạnh những em tiếp thu tốt, tiếp thu bài nhanh vẫn còn một số em chậm phát triển về trí nhớ, học trước quên sau, chậm tiến do thể chất yếu ớt hay đau ốm. - Đa số phụ huynh trong lớp là công nhân, đi làm về muộn, chưa có điều kiện quan tâm đúng mức đến con em mình, chưa tạo điều kiện để kèm cặp con em học ở nhà.
- - Một số trường hợp bố mẹ đi làm ăn xa, con em ở nhà với ông bà, cha mẹ các em khoán trắng việc học hành cho nhà trường và thầy cô nên phần nào cũng ảnh hưởng đến việc học tập của các em. - Khả năng đọc của một số em vẫn còn hạn chế, đọc chưa chuẩn văn bản, chưa đảm bảo tốc độ; không gọn từ, câu, đoạn. Vì vậy, giáo viên chủ nhiệm chúng ta phải biết được những ưu điểm, hạn chế, đặc điểm tình hình của từng đối tượng học sinh giúp học sinh phát huy hết những mặt tích cực, những ưu điểm, đồng thời khắc phục những mặt chưa tốt để học sinh hoàn thiện tốt mục đích học tập của mình. Là một giáo viên giảng dạy nhiều năm, bằng những kinh nghiệm của bản thân tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục. III. NỘI DUNG GIẢI PHÁP ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN III.1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến 1. Giải pháp 1. Biện pháp tác động giáo dục - Từ những thưc trạng trên, giáo viên tiến hành họp phụ huynh học sinh đề nghị và yêu cầu thống nhất trang bị đủ sách vở đồ dùng cần thiết phục vụ cho môn học. - Yêu cầu, đề nghị phụ huynh nhắc nhở, uốn nắn kịp thời việc học và làm bài ở nhà của học sinh. - - Tham mưu với nhà trường để giáo viên có đủ đồ dùng tranh ảnh và tài liệu tham khảo phục vụ bài dạy. Đồng thời mượn đồ dùng học tập, sách giáo khoa cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn. - Xây dựng đôi bạn học giỏi - yếu kèm cặp nhau. Đưa ra các tiêu chuẩn thi đua cho từng nhóm. Đầu giờ truy bài các nhóm kiểm tra chéo nhau. Cuối mỗi tuần tổng kết thi đua vào giờ sinh hoạt. Hết tháng tổng kết tháng và có trao thưởng bằng phấn, bút chì, vở, Hình ảnh: Khen thưởng học sinh có tiến bộ theo tuần.
- 2. Giải pháp 2. Giải pháp dạy học phân loại theo các dạng bài a. Phần học các nét chữ cơ bản Ngay sau những buổi đầu rèn nề nếp, giáo viên cho học sinh học và đọc các nét chữ cơ bản. Giáo viên dạy thật kĩ, thật tỉ mỉ tên gọi và cách viết các nét chữ cơ bản đó. Để cho học sinh dễ hiểu, dễ nhớ những nét chữ cơ bản cần phân theo cấu tạo các nét có tên gọi và cấu tạo gần giống nhau thành từng nhóm để học sinh dễ nhận biết và so sánh. Dựa vào các nét chữ cơ bản này mà học sinh phân biệt được các chữ cái, kể cả các chữ cái có hính giáng cấu tạo giống nhau. Ví dụ: Các nét chữ cơ bản và tên gọi. Nét sổ thẳng Nét gạch ngang Nhóm 1: Nét xiên Nét xiên phải Nét xiên trái Nhóm 2: Nét móc Nét móc xuôi Nét móc ngược Nét móc hai đầu Nhóm 3: Nét cong Nét cong trái Nét cong phải Nét cong kín Nhóm 4: Nét khuyết Nét khuyết trên Nét khuyết dưới Nét thắt b. Phần học âm Sau khi học sinh đã học thật thuộc tên gọi và cấu tạo các nét chữ cơ bản một cách vững vàng thì tiếp theo là phần học âm (chữ cái). Giai đoạn học chữ cái là giai đoạn vô cùng quan trọng. Trẻ có nắm chắc từng chữ cái thì mới ghép được các chữ vào với nhau để thành tiếng, các tiếng đơn ghép lại với nhau tạo thành từ và thành câu. Giai đoạn này tôi dạy cho trẻ phân tích từng nét chữ cơ bản trong từng chữ cái và nếu chữ cái đó có cùng một tên gọi song có nhiều kiểu viết khác nhau hay gặp trong sách báo như: chữ a, chữ g thì tôi phân tích cho học sinh
- hiểu và nhận biết đó là: chữ a, chữ g để khi gặp kiểu chữ đó trong sách báo, trẻ dễ hiểu và không bị lúng túng. Ví dụ: Âm: a - a, g - g. + Âm a gồm hai nét: nét tròn nằm bên trái và nét sổ thẳng nằm bên phải; a cũng gồm nét tròn và nét móc trên. + Âm g gồm: nét tròn và nét móc dưới; g gồm nối với nét cong phải. Từ việc học kỹ cấu tạo âm tạo bởi các nét chữ cơ bản thật kỹ và tỉ mỉ sẽ giúp trẻ phân biệt được sự khác nhau cả về cấu tạo và tên gọi của bốn âm sau: d - b; p - q. Ví dụ: + Âm d gồm hai nét: nét tròn nằm ở bên trái và nét sổ thẳng nằm ở bên phải: đọc là “dờ” + Âm b gồm hai nét: nét tròn nằm ở bên phải và nét sổ thẳng nằm ở bên trái: đọc là “bờ” Sang phần âm ghép, nghĩa là âm gồm hai âm đơn ghép lại với nhau. Tôi cho học sinh sắp xếp các âm có âm h đứng sau thành một nhóm để nói lên được sự giống nhau và khác nhau của các am đó. Ví dụ: + Các âm ghép: ch – c gh – g nh - n ph – p th – t ngh – ng kh – k + Còn lại các âm:gi, tr, qu, ng tôi cho học thật kĩ cấu tạo và cách ghép chữ. + Phân biệt từng cặp: Để phát âm chính xác và phân biệt để viết đúng chính tả ch - tr c - k ng - ngh g - gh Trong từng ngày, từng bài ôn, tôi đã nghĩ ra được một số bài để kiểm tra sự nhận thức của trẻ thông qua các giờ chơi, các giờ nghỉ. Từ đó củng cố thêm kiến thức về từ ngữ, câu văn cho trẻ tránh sự đơn điệu của các bài ôn tập trong
- sách. Vì những bài ôn này ở trong sách được lặp đi lặp lại bài nào cũng như bài nào làm cho học sinh tiếp thu một cách nhàm chán nên tôi đã thay vào phần chơi trong tiết hai của bài ôn là những bài mà tôi tự nghĩ và viết ra phiếu. Có thể phiếu chỉ là từ gồm 2 hoặc 3 tiếng, cũng có thể là một câu văn. Song những từ và câu văn này phải có nghĩa và mang tính giáo dục. Cả trong những khi kiểm tra bài có thể là bảng con cũng có khi là phiếu cho học sinh lên bốc thăm rồi đọc lên. Bảng và phiếu là những từ chỉ có âm, vần mới học xong, từ đó không lấy trong sách ra. Nếu học sinh đã thuộc mặt chữ rồi thì bất kì một từ mới nào trẻ cũng đọc được. Đến khi học sinh viết chính tả vào bảng con, tôi cũng không đọc cho học sinh viết những tiếng và từ đã có sẵn trong bài. Thông qua phần xây dựng tiếng, từ mới trẻ được hiểu biết thêm nhiều từ và ý nghĩa của các từ mà trẻ tìm được của hôm trước nay viết vào bảng. Do đó phong trào tìm tiếng, từ mới học sinh rất hào hứng và phấn khởi tham gia sôi nổi nhiệt tình. Những đoạn văn hay bài văn mang tính chất cung cấp kiến thức về âm, vần, tiếng. c. Phần học vần Sang đến phần học vần, học sinh đã nắm vững các âm, các em còn được làm quen với các kiểu chữ: Chữ in hoa, chữ viết hoa nên giáo viên tập cho học sinh nhận biết các kiểu chữ hoa một các chính xác để các em đọc đúng. Để giúp trẻ đọc đúng phần vần, giáo viên tập cho học sinh thói quen: nhận diện, phân tích cấu tạo của vần, nhận biết vị trí các âm trong vần để các em học vững. Ví dụ: Học vần ay: 1. Cho học sinh nhận diện về cấu tạo vần ay: vần ay gồm 2 âm: âm a và âm y. Vị trí âm trong vần: âm a đứng trước, âm y đứng sau. 2. Đánh vần vần ay: - Hướng dẫn học sinh: âm a đứng trước ta đọc a trước, âm y đứng sau ta đọc y sau: a - y - ay - Đọc trơn vần: ay
- Kết hợp sử dụng bộ đồ dùng môn Tiếng Việt 1 (gồm thẻ chữ và bảng cài), cho học sinh tìm ghép âm, vần, thanh để tạo tiếng mới, từ mới trong các bài học vần. Ví dụ: Yêu cầu các em: chọn đúng 2 âm: a và y Ghép đúng vị trí: a trước y sau Nếu các em đã ghép đúng, giáo viên hướng dẫn các em cách đánh vần và đọc trơn vần như trên, các em sẽ nhận biết và đọc được vần ay. Với cách dạy phân tích, nhận diện và ghép vần vào bảng cài học sinh như thế, nêu áp dụng thường xuyên cho các tiết học vần, chúng ta sẽ tạo cho các em kĩ năng phân tích, nhận diện và ghép vần dẫn đến đánh vần, đọc trơn vần một cách dễ dàng và thành thạo, giúp các em học phần vần đạt hiệu quả tốt. Trong SGK Tiếng Việt 1 có kèm theo các tiếng, từ ứng dụng và các câu thơ, câu văn ngắn để học sinh luyện đọc. Muốn cho học sinh đọc được các từ và câu ứng dụng trong bài, giáo viên cho học sinh nắm chắc các vần, sau đó cho các em ghép chữ cái đầu với các vần vừa học để đọc tiếng, đọc từ của bài. Luôn đưa ra cho học sinh so sánh vần đã được học với vần hôm nay học để học sinh so sánh và ghi nhớ. Ví dụ: Dạy vần ay, cho học sinh so sánh với vần ai. Từ đây học sinh tìm ra điểm giống nhau và khác nhau giữa 2 vần. Rồi so sánh cả 2 vần trong bài học: ay/ây. Từ đây giúp các em có kĩ năng so sánh đối chiếu và khắc sâu các vần trong phân môn học vần. Ví dụ: Dạy vần ay có trong từ “máy bay” Sau khi học sinh nắm vững vần ay, nhìn và đọc được vần ay một cách chắc chắn. Giáo viên đưa ra từ “máy bay” và giúp học sinh nhận biết: Âm gì đứng trước vần ay (âm b), thanh gì ở trên vần ay (thanh ngang), vậy ta có thể ghép và đánh vần: bờ- ay- bay. Đọc trơn: bay, ghép từ: máy bay. Giáo viên sử dụng tranh minh họa để cho học sinh hứng thú được nhìn vào tranh ảnh sinh động hoặc mẫu vật thật để gợi trí tò mò, ham học hỏi của học sinh, giúp các em chủ động trong giờ học. d. Phần tập đọc Đây là giai đoạn khó khăn đối với học sinh, nhất là đối tượng học sinh
- trung bình, yếu. Học sinh khá, giỏi đã vững phần chữ cái, nắm vững phần vần, chỉ nhìn vào bài là các em đọc được ngay tiếng, từ hoặc câu khá nhanh vì khả năng nhận biết tốt. Còn học sinh trung bình, yếu, các em nhận biết còn chậm, chưa nhìn chính xác vần nên ghép tiếng rất chậm, ghép tiếng chậm dẫn đến đọc từ chậm và đọc câu rất khó khăn. Vì thế đối với các học sinh này, sang phần tập đọc giáo viên cần phải hết sức kiên nhẫn, dành nhiều cơ hội tập đọc cho các em, giúp các em đọc bài từ dễ đến khó, từ ít đến nhiều, giáo viên tránh nóng vội để đọc trước cho các em đọc lại dẫn đến tình trạng đọc vẹt và tính ỷ lại thụ động của học sinh. Giáo viên nên cho học sinh nhẩm đánh vần lại từng tiếng trong câu, đánh vần xong đọc trơn lại tiếng đó nhiều lần để nhớ, sau đó nhẩm đánh vần tiếng kế tiếp, lại đọc trơn tiếng vừa đánh vần rồi đọc lại từng cụm từ. Ví dụ: Trong bài 35: Ôn tập và kể chuyện. Có bài tập đọc: Thỏ và Rùa. Một học sinh chưa đọc được tiếng “ nhởn”, giáo viên nên cho các em đánh vần tiếng “nhởn” bằng cách phân tích như sau: Giáo viên: Tiếng “nhởn”gồm có âm gì và ghép với vần gì? Có dấu thanh gì? Học sinh: Tiếng “ nhởn” gồm có âm nh ghép với vần ơn và thanh hỏi. Giáo viên: Vậy đánh vần tiếng “nhởn” thế nào? Học sinh: nhờ- ơn- nhơn- hỏi- nhởn Giáo viên: Đọc trơn tiếng này thế nào? Học sinh: nhởn Cho học sinh đọc nối tiếp: nhởn nhơ. Sau mỗi lần đánh vần, học sinh đọc trơn nhiều lần các tiếng để khắc sâu vào trí nhớ của học sinh. 3. Giải pháp 3. Sử dụng và lựa chọn các phương tiện dạy học Trong từng tiết dạy môn Tiếng việt, để giúp học sinh tích cực và ham học giáo viên cần sử dụng linh hoạt và phù hợp các phương tiện hỗ trợ tiết dạy như sau: - Sử dụng tranh ảnh trong sách giáo khoa là chủ yếu. - Tận dụng những vật thật, tranh ảnh có sẵn trong thực tế để các em quan sát tìm hiểu.
- Ví dụ: Trong phần đọc từ, có từ “vở vẽ, quả chanh, kính râm”, muốn học sinh nhận biết được sự vật và đọc được từ đó, tôi sẽ đưa ra 1 quyển vở vẽ, 1 quả chanh, chiếc lá khô, lá đỏ hay chiếc kính râm cho học sinh quan sát. Qua đó học sinh biết được “ vở vẽ, lá đỏ, lá khô, quả chanh, kính râm” dùng làm gì và đọc nhanh được từ đó. Hình ảnh: Học sinh sử dụng vật thật trong tiết luyện đọc. - Sưu tầm thêm một số tranh ảnh, mẫu vật có liên qua đến bài dạy. - Ứng dụng các hình ảnh bài giảng điện tử giảng dạy trong tiết học. Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 1 có rất nhiều kênh hình và kênh chữ nên việc thiết kế giáo án điện tử với hiệu ứng đổi màu chữ, gạch chân dưới yêu cầu của đề bài sẽ giúp học sinh nhớ lâu hơn. Khi tổ chức trò chơi có thể thêm âm thanh như tiếng chuông, tiếng vỗ tay, để thu hút sự chú ý của học sinh.
- Hình ảnh: Hình ảnh slie trong bài dạy. - Sử dụng thường xuyên bộ đồ dùng học Tiếng Việt của học sinh và giáo viên. Hình ảnh: Học sinh sử dụng bộ đồ dùng môn Tiếng Việt Ứng dụng một số phần mềm luyện đọc như: + Phần mềm tìm từ theo tranh (Find Word by Picture) là phần mềm rèn luyện nâng cao hiểu biết và vốn từ tiếng Việt. Trên màn hình sẽ xuất hiện một bức tranh và 3 từ tiếng Việt phía dưới. Nhiệm vụ của học sinh là tìm được chính xác từ tương ứng với bức tranh trên và thực hiện thao tác kéo thả từ này lên dòng trống phía trên bên dưới bức tranh. + Phần mềm mưa âm vần (Syllable Rain): Đây là phần mềm trò chơi rèn luyện khả năng quan sát nhanh và
- nhanh tay, tinh mắt bấm chuột nhanh. Từ phía trên của màn hình các em sẽ thấy các chữ và vần "mưa" xuống dưới. Nhiệm vụ của em là thật nhanh tay nháy chuột vào các âm vần này không để chúng bị rơi xuống đất. Khi nháy vào một âm vần học sinh sẽ nghe được phát âm đúng của vần này. 4. Giải pháp 4. Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Có rất nhiều phương pháp và hình thức để áp dụng cho một tiết dạy nhằm đạt được một kết quả tốt cho giờ học. Tuy nhiên không một phương pháp nào được coi là vạn năng, giáo viên nên sử dụng linh hoạt và đồng loạt nhiều phương pháp để giúp học sinh của mình đọc ngày càng tốt hơn. Sau đây là một số phương pháp thường được áp dụng trong giờ học: * Phương pháp trực quan Phương pháp này đòi hỏi học sinh được quan sát vật thật, tranh ảnh tự nhiên hay việc làm mẫu của giáo viên như cho các em nghe cô phát âm mẫu, đánh vần mẫu, đọc mẫu. Ví dụ: Khi dạy học sinh học âm 1, giáo viên phải phát âm mẫu và cho học sinh quan sát khuôn miệng để các em “bắt chước” phát âm mới đúng được. * Phương pháp đàm thoại, vấn đáp. Giáo viên đưa ra nhiều câu hỏi để học sinh trả lời nhằm phát hiện sự hiểu biết của các em hoặc để gợi mở giúp các em phát hiện cách đọc. VD: - Chữ này là chữ gì? (chữ a, o, b, c, d....) - Âm ch đứng trước, vần anh đứng sau, em đánh vần thế nào? (chờ- anh- chanh). Khi sử dụng phương pháp này, giáo viên nên dùng ngôn ngữ dễ nghe, nhẹ nhàng, tránh cáu gắt khi các em chậm nhớ, chậm hiểu. Hãy ôn tồn dẫn dắt học sinh từng bước một để dạy các em đọc từng chữ, từng từ, từng câu trong mỗi ngày. * Phương pháp quan sát, động viên khen thưởng học sinh.
- Trong tiết dạy tôi thường chú ý đến học sinh ít nói, thụ động, học sinh đọc chậm, đọc yếu để gọi các em thường xuyên đọc bài. Đối với học sinh giỏi - khá tôi thường khích lệ, khen ngợi để các em phấn khởi hơn. Còn đối với học sinh trung bình - yếu tôi nhẹ nhàng an ủi động viên: “Cố lên, rồi các em sẽ đọc tốt như các bạn nếu các em cố gắng đọc bài nhiều ở lớp cũng như ở nhà.” Trong tiết dạy tập đọc, sau khi cho cả lớp đọc xong, tôi mời các em đọc yếu, trung bình lên bàn giáo viên để cùng đọc bài với cô. Tôi giành nhiều thời gian cho đối tượng này hơn. Cùng đọc bài với các em trong giờ ra chơi (nhưng vẫn để cho các em có thời gian thư giãn, nghỉ ngơi). Khi các em có biểu hiện tiến bộ tôi thường khen thưởng các em bằng những phần quà nhỏ như cuốn vở, viên phấn màu, cây bút đẹp, Sticker vv... để các em thích thú và cố gắng hơn. Hình ảnh: Học sinh nhận phần thưởng *Phương pháp học nhóm Ngay từ đầu năm học qua khảo sát, phân loại học sinh trong lớp tôi bố trí cho học sinh giỏi kèm học sinh yếu, em giỏi ngồi gần em yếu để giúp bạn học tập, ưu tiên những học sinh yếu được ngồi ở dãy bàn thứ nhất và thứ hai trong lớp. Trong từng giờ học, lúc nào tôi cũng gọi các em đọc bài nhiều hơn những bạn học sinh khác, gọi đọc theo nhóm đôi (trong cùng bàn) để học sinh yếu đọc theo học sinh giỏi, và học sinh yếu cũng được luyện tập nhiều hơn. * Phương pháp tổ chức các trò chơi Trong giờ học vần, tôi lồng ghép trò chơi nhỏ để cả lóp cùng tham gia.
- VD: Trò chơi Đọc nhanh - Đọc đúng: Giáo viên ghi một số từ vào các mành bìa và đưa ra cho học sinh đọc. Bạn nào đọc nhanh, đọc đúng 3 từ liên tiếp sẽ được cả lớp khen là giỏi và tôi thường hay chọn các học sinh trung bình, yếu để đọc nhiều hơn nhằm giúp các em cố gắng đọc để thi đua và tạo cho các em khả năng đọc nhanh, đọc đúng. Hay trò chơi Chỉ nhanh - Chỉ đúng: Tôi gọi một nhóm 3 học sinh lên bảng 1 em (là học sinh khá, giỏi) đọc cho hai học sinh yếu chỉ vào âm, vần, tiếng, từ do bạn đọc. Trò chơi này học sinh rất thích và lớp học cũng sôi nổi. *Phương pháp nhận xét nêu gương. Để nâng dần chất lượng học sinh trong lóp, muốn cho trình độ học sinh đồng đều vào cuối năm học, tôi thường trò chuyện với học sinh trung bình – yếu để giúp các em cố gắng hơn cho kịp bằng các bạn. Tôi cho các em nhận xét các bạn giỏi trong lớp, qua đó nêu gương một cách nhẹ nhàng cho những em khác. III.2. Tính mới, tính sáng tạo: * Tính mới Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 các bài đọc được sắp xếp theo chủ đề, nội dung bài đọc gần gũi với cuộc sống nên học sinh tiếp cận chương trình mới dễ dàng hơn. Học sinh được rèn đọc nhiều, các em sẽ đọc đúng, đọc lưu loát, đọc diễn cảm thì các em sẽ hiểu được nội dung văn bản. Khi dạy cho học sinh ta không chỉ dạy cho các em những nội dung trong sách giáo khoa mà giáo viên còn cho học sinh tìm từ mới ngoài sách để cho các em phát huy được vốn hiểu biết, vốn ngôn ngữ của các em. Giáo viên chú trọng đến việc dạy học cá nhân, phân loại học sinh theo từng nhóm để có những biện pháp khác nhau. Đánh giá học sinh theo sự tiến bộ của các em. Giáo viên động viên khen thưởng đối với những em học tốt, có tiến bộ. Đồng thời cũng tư vấn kịp thời những điểm cần khắc phục để các em tiến bộ hơn. Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực để các em thấy được: “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 có những thay đổi về đánh giá cho học sinh. Học sinh tham gia đánh giá lẫn nhau để giúp nhau cùng tiến
- bộ. Các em được chia sẻ bài với bạn để nói nên ý kiến của mình. Phối hợp với phụ huynh để uốn nắn kịp thời việc học của các em. Từ đó giúp các em tự tin hơn trong học tập. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 được xây dựng kết nối tri thức với cuộc sống, nội dung bài đọc gần gũi với các em. Sau mỗi bài đọc đều giáo dục cho các em tình yêu quê hương đất nước. * Tính sáng tạo Giáo viên nghiên cứu các giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1. Các tài liệu liên quan: Sách giáo viên, Sách giáo khoa lớp 1, các tham luận dạy Tiếng Việt cho học sinh lớp Một, phương pháp dạỵ học Tiếng Việt 1, các ấn phẩm: để học tốt, dạy tốt môn Tiếng Việt lớp Môt, phần mềm dạy học Tiếng Việt 1, sách báo, các loại sách tham khảo, bổ trợ Tiếng Việt lớp 1 ... Qua áp dụng biện phát rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 theo chương trình Giáo dục phổ thông 2018, tôi thấy chất lượng đọc của học sinh cao hơn, các em có kĩ năng đọc tốt hơn và rút ra được kinh nghiệm là muốn rèn đọc cho học sinh được tốt trước hết người giáo viên cần có nghiệp vụ sư phạm tốt, giọng đọc mẫu của giáo viên phải chuẩn mực để học sinh bắt chước. Giáo viên cần chủ động hướng dẫn các em luyện phát âm, ngắt nghỉ hơi cho đúng. Chính vì vậy giáo viên cần chuẩn bị bài chu đáo dự kiến được những chỗ học sinh có thể mắc nỗi trong khi đọc để sửa cho các em kịp thời. Giáo viên cần nắm chắc đối tượng học sinh để có biện pháp hữu hiệu nhất cho từng đối tượng, tổ chức lớp học sao cho tạo được bầu không khí lớp học sôi nổi, kích thích sự ham học của học sinh. Giáo viên phải lựa chọn và sử dụng các phương tiện dạy sao cho có hiệu quả. Giáo viên nắm chắc phương pháp bộ môn, kịp thời áp dụng, vận dụng linh hoạt các phương pháp trong mỗi bài học. Để việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh đạt hiệu quả cao thì việc rèn đọc không chỉ được thực hiện trong môn Tiếng Việt, mà phải được chú trọng thường xuyên ở tất cả các môn học, các tiết học. Khi phát hiện các em đọc sai, đọc nói chưa chuẩn thì giáo viên cần phải uốn nắn kịp thời. Có như vậy thì việc học của các em mới đạt hiệu quả cao. III. 3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến: - Kĩ năng đọc là sự khởi đầu giúp cho học sinh chiếm lĩnh một công cụ
- mới để sử dụng trong học tập và trong giao tiếp. Kĩ năng đọc có một vị trí quan trọng không thể thiếu được trong chương trình môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học. Cùng với kĩ năng viết, kĩ năng đọc có nhiệm vụ lớn lao là trao cho các em cái chìa khóa để vận dụng chữ viết trong học tập. Khi biết đọc, biết viết các em có điều kiện nghe lời thầy giảng trên lớp, sở dụng sách giáo khoa, sách tham khảo . Từ đó có điều kiện học tốt các môn học khác. Hơn nữa nếu kĩ năng đọc được rèn luyện tốt, hình thành tốt ở các em nó sẽ giúp các em đọc tốt suốt cả cuộc đời, giúp các em phát triển tư duy, cảm nhận cái hay, cái đẹp trong mỗi bài học. Hiểu được nghĩa của tiếng, từ, câu, đoạn văn, bài văn mình vừa đọc. Hiểu được các lệnh, làm tốt làm nhanh được các yêu cầu trong các môn học khác. Mặt khác , ở lớp 1 các em đọc thành thạo, đọc đúng, đọc trôi chảy thì khi lên các lớp trên các em sẽ học vững vàng, học tốt hơn. Các em sẽ hứng thú, ham học, tích cực trong học tập - Đề tài mà tôi nghiên cứu không chỉ giúp cho mỗi giáo viên có thể vận dụng để rèn đọc cho học sinh lớp 1, đồng thời còn áp dụng ở tất cả các tiết học của môn Tiếng Việt và các môn học khác. - Việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm vận dụng vào việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh trong từng môn học, từng bài học là hoạt động thường xuyên của giáo viên trong nhà trường. Vì vậy đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư, sự kiên trì, phải biết linh hoạt vận dụng các phương phát kịp thời đúng lúc đúng chỗ. Người giáo viên phải nắm được vị trí nhiệm vụ của môn học cũng như việc dạy đọc, dạy phát âm đúng cho học sinh. Từng bước nâng cao ý thức cho phụ huynh và học sinh đối với việc rèn kĩ năng phát âm chuẩn Tiếng Việt. - Kết quả thu được không phải ngẫu nhiên mà có, mà là do sự tác động của giáo viên. Chứng tỏ vai trò hướng dẫn của người giáo viên trong rèn kĩ năng đọc là vô cùng quan trọng. Tuy kết quả chưa được mĩ mãn nhưng cũng phản ánh thành công bước đầu trong quá trình rèn kĩ năng đọc cho học sinh của tôi. Với kế hoạch tiếp tục duy trì biện pháp rèn kĩ năng đọc như đã tiến hành, tôi tin tưởng vấn đề tôi đề cập trong đề tài này việc rèn kĩ năng đọc cho các em sẽ có kết quả khác biệt. - Đề tài có thể áp dụng và nhân rộng ở các lớp trong trường Tiểu học, các bài học, các môn học có những hoạt động liên quan đến rèn đọc. III. 4. Hiệu quả, lợi ích thu được từ sáng kiến:
- Sau thời gian xây dựng nề nếp học tập và rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018. Tôi thấy học sinh tiếp thu tốt mà không tốn kém về kinh tế, các phương pháp dạy học dễ làm, dễ áp dụng. Tôi có nhiều thời gian để mở rộng, khắc sâu kiến thức cho học sinh hơn. Kết quả đánh giá cuối học kỳ I năm học 2023 - 2024 môn Tiếng Việt lớp tôi như sau: Lớp Sĩ số Hoàn thành tốt Hoàn thành CHT 1B 30 25 5 0 Trong giao tiếp, trong học tập, trong công tác hàng ngày, con người luôn phải học hỏi, giao tiếp nền văn minh của xã hội loài người. Vậy mà trong những kinh nghiệm cuộc sống, những thành tựu về văn hóa, khoa học, xã hội những tư tưởng tình cảm của các thế hệ đi trước và của xã hội đương thời thì phần lớn đơn vị ghi lại bằng chữ viết. Do vậy nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn minh của nhân loại, không có niềm vui hạnh phúc với đúng nghĩa của nó trong xã hội hiện tại. Chính vì vậy dạy đọc là một việc làm vô cùng quan trọng ở Tiểu học, trong các giờ học của các môn học nói chung và ở phân môn Tập đọc nói riêng việc đọc đúng, đọc hay, dạy đọc cho học sinh là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu. Để học sinh có khả năng đọc đúng, hay, diễn cảm thì người giáo viên phải dạy cho học sinh đọc đúng, đọc diễn cảm ngay từ những lớp đầu cấp. Khi học sinh đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm sẽ góp phần cho các em học tiếp thu các môn học khác được dễ dàng hơn. Các em có ý thức tự giác trong học tập. Chính vì vậy mà công tác chủ nhiệm cũng nhẹ nhàng hơn.Giáo viên có nhiều thời gian nghiên cứu chuyên môn hơn. Chính vì thế mà lớp tôi chủ nhiệm luôn đạt được thành tích nhờ vào hiệu quả học tập của học sinh. Trên đây là một số biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 1. Qua nhiều năm giảng dạy, tôi đã nghiên cứu, tìm tòi, rút ra được một số kinh nghiệm và áp dụng vào giảng dạy ở lớp mình. Hiệu quả mang lại khá khả quan. Lớp do tôi chủ nhiệm năm nào cũng đạt và vượt chỉ tiêu nhà trường giao. Luôn đạt được
- lớp tiên tiến toàn diện. Nên tôi mạnh dạn đưa ra mội số giải pháp: “Đổi mới phương pháp trong việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp Một theo Chương trình GDPT 2018” Tuy nhiên do thời gian và trình độ có hạn nên vấn đề tôi trình bày không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, bạn bè đồng nghiệp để đề tài của tôi hoàn thiện hơn và được áp dụng rộng rãi vào thực tiễn. Tôi xin chân thành cảm! Vĩnh Bảo, ngày 10 tháng 01 năm 2024 CƠ QUAN ĐƠN VỊ Tác giả sáng kiến ÁP DỤNG SÁNG KIẾN ....................................... ....................................... ....................................... Vũ Thị Thủy
- MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG I. THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 2 II. MÔ TẢ GIẢI PHÁP ĐÃ BIẾT 2 II.1. Mô tả giải pháp đã biết 2 II.2. Ưu điểm của các giải pháp đã biết 3 II.3. Tồn tại, bất cập của các giải pháp đã biết 3 III. NỘI DUNG GIẢI PHÁP ĐỀ NGHỊ CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN 4 III.1. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận sáng kiến 4 III.2. Tính mới, tính sáng tạo 15 III.3. Phạm vi ảnh hưởng, khả năng áp dụng của sáng kiến 16 III.4. Hiệu quả, lợi ích thu được từ sáng kiến 17
- CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BẢN CAM KẾT I.Tác giả: Họ và tên: Vũ Thị Thủy Ngày sinh: 05/7/1975 Chức vụ/Đơn vị công tác: Giáo viên - Trường Tiểu học Thị trấn Vĩnh Bảo Điện thoại: 0972321929 II. Tên sáng kiến: “Đổi mới phương pháp trong việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp Một theo Chương trình GDPT 2018” III. Cam kết: Tôi xin cam kết sáng kiến này là sản phẩm của cá nhân tôi. Đó là một quá trình nghiên cứu, tìm tòi, đúc rút kinh nghiệm từ trong thực tế làm công tác giảng dạy mới có được. Tôi không hề sao chép bằng bất kỳ hình thức nào. Nếu không có tính trung thực về quyền sở hữu đối với một phần hay toàn bộ sản phẩm của sáng kiến tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lãnh đạo đơn vị, Phòng giáo dục, Sở giáo dục. Vĩnh Bảo, ngày 10 tháng 01 năm 2023 Người cam kết ( Kí tên ) Vũ Thị Thủy

