Tài liệu ôn tập học kỳ II môn Ngữ văn 9 - Hồ Thị Ngọc Lan

doc 23 trang vuhoai 09/08/2025 140
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu ôn tập học kỳ II môn Ngữ văn 9 - Hồ Thị Ngọc Lan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • doctai_lieu_on_tap_hoc_ky_ii_mon_ngu_van_9_ho_thi_ngoc_lan.doc

Nội dung text: Tài liệu ôn tập học kỳ II môn Ngữ văn 9 - Hồ Thị Ngọc Lan

  1. ÔN TẬP TIẾNG VIẸT 1.Khởi ngữ Thế nào là khởi ngữ? Cho ví dụ minh họa? - Khởi ngữ là thành phần câu đứng trước chủ ngữ để nêu lên đề tài được nói đến trong câu. Trước khởi ngữ thường có thể thêm các từ: về, đối với, còn + Nói về bạn thân, tôi chỉ có anh ấy. + Bài tập ấy, Nam giải chỉ trong năm phút. Chuyển các câu có khởi ngữ thành câu không có khởi ngữ và ngược lại. - Về văn chương, anh ấy rất say mê → Anh ấy rất say mê văn chương. - Tôi đã tìm mua quyển sách đó từ rất lâu → Quyển sách đó, tôi đã tìm mua từ rất lâu. - Đẹp người lại đẹp nết, đó là điểm mọi người quý cô ấy → Điểm người quý cô ấy là vừa đẹp người lại đẹp nết. 2. Các thành phần biệt lập Thế nào là thành phần biệt lập? Kể tên các thành phần biệt lập. Cho ví dụ minh họa - Thành phần biệt lập: là thành phần không tham gia vào việc diễn đạt nghĩa sự việc của câu. - Các thành phần biệt lập: + Thành phần tình thái: là thành phần được dùng để thể hiện cách nhìn của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu. Ví dụ: Có lẽ, tôi sẽ đến vào sáng mai. Chắc là, anh ấy chưa hiểu điều tôi nói. + Thành phần cảm thán: là thành phần được dùng để bộc lộ thái độ, tình cảm, tâm lí của người nói (vui, buồn, mừng, giận, ); có sử dụng các từ ngữ: ôi, chao ôi, ơi, a, trời ơi Thành phần cảm thán có thể tách ra thành một câu riêng theo kiểu câu đặc biệt. Ví dụ: A, mình nhớ ra bạn rồi! Chao ôi, đôi mắt trẻ thơ trong và đẹp đến lạ thường! + Thành phần gọi – đáp: là thành phần được dùng để tạo lập hoặc duy trì quan hệ giao tiếp; có sử dụng từ ngữ dùng để gọi đáp: ơi, này, thưa, vâng Ví dụ: Thưa ông, cháu chưa hiểu ý ông nói ạ! Này, cậu có đi về quê với tớ không? + Thành phần phụ chú: là thành phần được dùng để bổ sung một số chi tiết cho nội dung chính của câu; thường được đặt giữa hai dấu gạch ngang, hai dấu phẩy, hai dấu ngoặc đơn hoặc giữa một dấu gạch ngang, một dấu phẩy. Đôi khi, nó được đặt sau dấu hai chấm. Ví dụ: Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi) – Giang Nam 3. Nghĩa tường minh, Hàm ý. - Nghĩa tường minh: Là phần thông báo được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu. - Hàm ý: Là phần thông báo tuy không được diễn đạt trực tiếp bằng từ ngữ trong câu nhưng có thể suy ra từ những từ ngữ ấy. * Điều kiện sử dụng hàm ý. - Người nói (người viết) có ý thức đưa hàm ý vào câu nói. - Người nghe (người đọc) có năng lực giải đoán hàm ý. 4. Liên kết câu, liên kết đoạn văn a. Liên kết nội dung: - Liên kết chủ đề GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:1
  2. - Liên kết logic b. Liên kết hình thức: Phép lặp, phép thế, phép liên tương, phép đồng nghĩa, trái nghĩa VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN VỀ MỘT SỰ VIỆC, HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG I. MỞ ĐOẠN - Dẫn vào đề - Nêu vấn đề: hiện tượng đời sống II. THÂN ĐOẠN 1. Mô tả (giải thích, giới thiệu ) hiện tượng đời sống 2. Phân tích thực trạng vấn đề Biểu hiện của vấn đề: - Qua số liệu - Không gian, thời gian - Đối tượng liên quan 3. Nêu nguyên nhân - Chủ quan - Khách quan. 4. Hậu quả (hiện tượng xấu)/ kết quả (hiện tượng tốt) - Đối với bản thân - Đối với cộng đồng, xã hội 5. Nêu các giải pháp, đề xuất các ý kiến III. KẾT ĐOẠN - Khẳng định vấn đề - hiện tượng đời sống - Bài học nhận thức và hành động của bản thân 1.Học sinh vi phạm luật an toàn giao thông đang là vấn đề được quan tâm hiện nay. Trình bày suy nghĩ của em về hiện tượng trên bằng đoạn văn khoảng 01 trang giấy thi. Đi lại là nhu cầu tất yếu của con người. Tuy nhiên, hiện nay, bước ra khỏi nhà, không ai không lo ngại bởi tai nạn giao thông đang ngày càng tăng lên. Đáng lo hơn khi đối tượng vi phạm luật an toàn giao thông lại là học sinh. Học sinh vi phạm luật an toàn giao thông là hiện tượng học sinh không chấp hành đúng quy định của pháp luật khi tham gia giao thông. Thường thấy nhất của hiện tượng này là các bạn điều khiển phương tiện giao thông sai làn đường quy định. Nhiều bạn điều khiển xe gắn máy khi chưa đủ tuổi, thậm chí chạy xe phân khối lớn khi chưa có giấy phép lái xe. Vào bãi giữ xe của học sinh, ta dễ dàng thấy có rất nhiều xe phân khối lớn. Đi học bằng xe đạp, nhiều bạn chạy hàng hai, hàng ba trên đường một cách vô tư, không chú ý đến việc gây ảnh hưởng đến hoạt động giao thông nói chung. Ngay cả việc đi bộ, nhiều học sinh không đi trên vỉa hè hay qua đường tại các vạch cho phép mà lại vô tư “thích đi chỗ nào cứ đi”!... Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc học sinh vi phạm luật an toàn giao thông. Có thể, một số ít bạn chưa nắm rõ về luật. Công tác tuyên truyền về luật chưa đủ sức tác động để làm thay đổi nhận thức và hành động của các em. Hình thức xử lí của một số trường chưa đủ sức để răn đe, ngăn ngừa học sinh tái phạm. Một số bạn học sinh, với tâm lí thích đua đòi, thích được chứng tỏ mình của tuổi mới lớn nên tìm mọi cách xin gia đình cho mình đi xe phân khối lớn. Điều này cũng phải nói đến việc các bậc phụ huynh thể hiện sự yêu thương chưa đúng cách nên đã chìu theo những đòi hỏi không đúng của con, em GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:2
  3. Hậu quả của hiện tượng trên là khó thể lường trước được. Đầu tiên phải nói đến là mối nguy hiểm luôn rình rập. Không chấp hành luật giao thông có thể gây ra những tai nạn đáng tiếc, ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của bản thân và mọi người. Những thiệt hại về tài sản kèm theo tai nạn giao thông là điều không tránh khỏi. Và nếu bị phát hiện vi phạm luật an toàn giao thông, học sinh sẽ bị công an xử phạt, bị nhà trường xử lí về hạnh kiểm. Nghiêm trọng hơn, nếu hành vi này kéo dài sẽ trở thành thói quen không tốt và đáng lo ngại. Phải làm gì trước hiện tượng này? Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền luật an toàn giao thông trong học sinh với nhiều hình thức phong phú: treo khẩu hiệu, trưng bày ảnh, các cuộc thi, mời cảnh sát giao thông về phổ biến luật Gia đình phải có sự hợp tác chặt chẽ với nhà trường trong việc nhắc nhở, bắt buộc con em phải chấp hành luật giao thông. Các hình thức xử lí vi phạm luật giao thông cần được thực hiện nghiêm khắc, khách quan hơn Tóm lại, nếu mỗi học sinh luôn có ý thức chấp hành đúng luật giao thông thì đã góp phần đảm bảo an toàn cho bản thân và mọi người. Bản thân em luôn tự nhắc mình chấp hành đúng pháp luật khi tham gia giao thông bằng việc đi đúng làn đường vi định, không điều khiển xe phân khối lớn, không đồng tình với những hi vi vi phạm luật giao thông. Nào, chúng ta hãy chung ta để ngăn chặn hành vi vi phạm luật giao thông xâm nhập học đường, các bạn nhé! 2. Bạo lực học đường ở học sinh đang là một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay. Trình bày suy nghĩ của em về hiện tượng trên bằng đoạn văn khoảng 01 trang giấy thi. Trường học được xem là ngôi nhà an toàn thứ hai của học sinh. Tuy nhiên, dưới tác động phức tạp của cuộc sống hiện nay, nhà trường đang phải đối mặt với những vấn đề đáng lo ngại, trong đó có bạo lực học đường ở học sinh. “Bạo lực học đường ở học sinh” là gì? Đó là hiện tượng học sinh giải quyết những xung đột, mâu thuẫn của nhau bằng vũ lực. Hiện tượng này đã đến mức báo động. Học sinh gây sự, đánh nhau mọi lúc mọi nơi: trong trường, trên đường, ngoài công viên, giữa giờ chơi, trong các lớp học thêm. Chỉ cần một cái click chuột, bạn có thể thấy vô số đoạn phim nữ sinh đánh nhau được đăng trên mạng. Số học sinh bị kỉ luật do vi phạm về đánh nhau ngày càng tăng. Đáng lo ngại là hiện tượng uy hiếp, gây sự, đánh nhau xuất hiện ở mọi cấp học: từ tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông đến đại học, ở cả các trường ở thành thị và nông thôn. Có thể nói, bạo lực học đường đã và đang thực sự trở thành nỗi lo lớn cho phụ huynh học sinh và nhà trường. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn nạn này. Dễ thấy nhất là do đặc điểm tâm sinh lí của học sinh. Đa phần các em thích khẳng định sức mạnh bản thân, háo thắng, không kìm chế được cảm xúc. Sự quan tâm thiếu chặt chẽ của gia đình trong việc giáo dục con cái cũng đã mang lại hậu quả nghiêm trọng.Giải pháp:Một số trường học chưa có biện pháp xử lí mạnh đối với học sinh vi phạm. Một nguyên nhân nữa không kém phần quan trọng là sự tác động của phim ảnh, trò chơi bạo lực. Các em có thói quen đồng nhất nội dung phim, trò chơi với những gì diễn ra ngoài thực tế đời sống Hậu quả của bạo lực học đường khó thể lường trước được. Thường nhất là ảnh hưởng không tốt đến kết quả học tập và rèn luyện của học sinh. Điều này có ảnh hưởng lớn đến tương lai của các em. Một học bạ ghi hạnh kiểm “Yếu” vì đánh nhau sẽ khó tạo được thiện cảm cho mọi người. Mặt khác, thường xuyên dùng bạo lực để giải quyết vấn đề dễ trở thành thói quen xấu, ảnh hưởng lâu dài đến quá trình phát triển nhân cách. Nghiêm trọng hơn, bạo lực có thể dẫn đến việc gây tổn hại đến tinh thần, sức khỏe của người khác, thậm chí dẫn đến tù tội. Nhận thức được những tai hại trên, cần phải làm gì đẩy lùi hiện tượng này? Trước hết, cần có sự kết hợp chặt chẽ hơn nữa ba môi trường giáo dục: gia đình, nhà trường, xã hội. Nhà trường, Đoàn thanh niên nên tổ chức nhiều sân chơi lành mạnh, bổ ích để học sinh sử dụng thời gian có ý nghĩa. Các cơ quan chức năng nên có biện pháp để ngăn chặn, hạn chế, xử lí các dịch vụ kinh doanh trò chơi mang tính bạo lực Song, điều quan trọng vẫn là ở chính các em. Các em cần phải biết kìm chế cảm xúc, có suy nghĩ chính chắn trước khi giải quyết một xung đột nào đó... Mọi người cần chung tay để đẩy lùi tện nạn bạo lực học nhằm trả trường học trở về đúng chức năng và ý nghĩa cao đẹp vốn có của nó: truyền đạt tri thức, giáo dục nhân cách, rèn luyện kĩ năng. Bản thân sẽ luôn tự ý thức bạo GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:3
  4. lực là cách tệ hại nhất trong giải quyết xung đột, không tham gia hay tổ chức đánh nhau, khuyên nhủ bạn bè nếu thấy có dấu hiệu dùng bạo lực. Mọi học sinh cần phải: “Nói không với bạo lực học đường”! NGHỊ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ I. MỞ ĐOẠN - Dẫn đề - Nêu vấn đề: chép nguyên văn câu danh ngôn, ý kiến, khái niệm về đạo đức, lối sống, II. THÂN ĐOẠN 1. Giải thích tư tưởng, đạo lí - Giải thích từ, ngữ, hình ảnh, vế câu - Đi từ nghĩa đen đến nghĩa bóng → nghĩa cả câu 2. Đánh giá và chứng minh tính đúng/ sai của tư tưởng, đạo lí - Khẳng định vấn đề (đúng/sai) và chứng minh cho tính đúng/ sai của tư tưởng, đạo lí (dẫn chứng + lí lẽ để làm sáng tỏ). - Phân tích biểu hiện, tác dụng/ tác hại của vấn đề (nếu vấn đề nghị luận là đức tính, phẩm chất hay thói xấu). 3. Bàn luận, mở rộng, nâng cao - Nêu phản đề: + Nếu đề đã nêu vấn đề mang tính tích cực → phê phán vấn đề mang tính tiêu cực (trái lại với vấn đề mà đề đã nêu ra). + Nếu đề đã nêu vấn đề mang tính tiêu cực → ca ngợi vấn đề mang tính tích cực (trái lại với vấn đề mà đề đã nêu ra). - Xem xét vấn đề ở nhiều góc độ, nhiều mốc thời gian III. KẾT ĐOẠN - Khẳng định lại ý nghĩa của tư tưởng, đạo lý. - Bài học nhận thức và hành động cho bản thân. Trình bày suy nghĩ của em về ý kiến: 1. Một trong những điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian. Cuộc sống có bao điều quý giá nhưng con người thường không chú ý gìn giữ đến khi mất đi thì không khỏi nuối tiếc, nhất là thời gian. Vì thế, có ý kiến cho rằng: Một trong những điều trong cuộc đời mỗi người nếu đi qua sẽ không lấy lại được: thời gian. Thời gian: là sự trôi chảy ngày tháng một cách khách quan, là sự tuần hoàn của tự nhiên: một phút bằng 60 giây, một giờ bằng 60 phút, một ngày gồm 24 giờ Thời gian không lệ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Quan niệm trên lưu ý mọi người: phải sử dụng thời gian hợp lí. Đây là tư tưởng đúng đắn. Vì thời gian qua đi sẽ không quay lại nên mới có khái niệm: hôm qua, hôm nay, dĩ vãng Thời gian tuy tuần hoàn, nhưng ngày hôm trước sẽ không giống hôm sau, hôm nay không phải là ngày mai như Hê-ra-clit từng nói: “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”. Vạn vật theo đó cũng biến đổi không ngừng: bông hoa sáng nở, tối tàn, con người của tương lai không phải luôn trẻ trung, xinh đẹp như hiện tại Sử dụng thời gian không hợp lí, con người dễ đánh mất nhiều thứ quý giá: tuổi trẻ, giây phút thiêng liêng bên gia đình, bạn bè, những cơ hội để học tập Nhiều học sinh bỏ học, chơi game, nên kết quả học tập sa sút. Họ đã lãng phí thời gian vô ích. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:4
  5. Người biết sử dụng thời gian hợp lí thì ít khi phải nuối tiếc, không phải thốt ra “phải chi”, “nếu như quay lại được lúc ấy, tôi sẽ ” và dễ thành công trong cuộc sống, giúp ích cho xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn cả đời cho dân tộc, quê hương; những sinh viên ngày miệt mài trên giảng đường, đêm đi làm gia sư, phụ quán để kiếm tiền trang trải việc học là những tấm gương không lãng phí thời gian. Nói tóm lại, thời gian rất quý giá. Bản thân em sẽ tận dụng thời gian vào việc học tập, chăm sóc cha mẹ, sống trong sáng, vui tươi, lành mạnh để không hoang phí tuổi trẻ. Mọi người hãy luôn nhớ: “Thời gian là vàng bạc”! 2. Trình bày suy nghĩ của em về đức hi sinh Trong cuộc đời, không ai tồn tại một cách lẻ loi, cô độc nếu biết nhận thức rõ mối quan hệ giữa bản thân với cộng đồng. Và cuộc sống sẽ càng ý nghĩa hơn nếu mỗi chúng ta biết hi sinh cho người khác. Đức hi sinh là sự tự nguyện nhận phần thua thiệt, mất mát nào đó về mình nhằm mục đích, lí tưởng cao đẹp. Lịch sử đã ghi nhận bao tấm gương về đức hi sinh: Lê Lai liều mình cứu chúa, Bế Văn Đàn lấy vai làm giá súng, Tô Vĩnh Diện dùng thân chèn pháo, Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai Trong cuộc sống hiện đại, đâu đó ta vẫn thường gặp những con người giàu đức hi sinh: anh Nguyễn Văn Nam hi sinh mạng sống để cứu năm em học sinh bị đuối nước, nhiều chiến sĩ công an đã hi sinh thân mình để cứu đồng bào trong cơn lũ lụt Những hành động đẹp đẽ đó bất tử và mãi tỏa sáng trong tâm trí bao thế hệ, là những tấm gương cho bao người ngưỡng vọng, tri ân và học tập. Tuy nhiên, cũng có những con người ích kỉ, lúc nào cũng chỉ biết đến bản thân, thậm chí bất chấp tất cả để đạt được mục đích cá nhân. Đáng sợ hơn, có kẻ lợi dụng sự hi sinh của người khác để mưu lợi cho mình. Đó là những mầm họa cho xã hội, cần phải bị lên án, phê phán. Tóm lại, hi sinh là đức tính cần thiết, là lẽ sống tốt đẹp của con người. Mỗi chúng ta cần rèn luyện đức hi sinh trong cuộc sống, từ hành động nhỏ như nhường nhịn bạn bè đến việc lớn hơn là hi sinh bản thân mình cho đất nước, cộng đồng khi cần thiết, như hai câu thơ của Tố Hữu: “Lẽ nào vay mà không có trả/ Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình” . NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ, BÀI THƠ. 1.Mở bài: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm. - Nêu rõ vị trí đoạn thơ, nghệ thuật tiêu biểu và luận điểm khái quát của bài thơ, đoạn thơ. VD: .là nhà thơ nổi tiếng của nền thi ca Việt Nam. . Có nhiều tác phẩm hay nhưng nổi bật nhất là “ ..”. Ở khổ thơ( .), với nghệ thuật ( ), tác giả đã cho thấy (nêu luận điểm chính của đoạn thơ) 2.Thân bài: Lần lượt trình bày những suy nghĩ, đán giá về nội dung, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ. *Phân tích thơ theo từng khổ thơ, từng luận điểm, cụ thể: - Giới thiệu luận điểm. - Dẫn thơ. - Phân tích nghệ thuật: từ ngữ, hình ảnh, giọng điệu, phép tu từ,.. - Nội dung. - Chốt. 3. Kết bài: - Chốt nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của bài thơ, đoạn thơ. - Liên hệ. MÙA XUÂN NHO NHỎ - Thanh Hải Hoàn cảnh sáng tác và chủ đề của bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:5
  6. - Hoàn cảnh sáng tác: bài thơ được sáng tác vào 11/ 1980, khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh – không bao lâu trước khi nhà thơ qua đời. - Chủ đề: niềm yêu mến thiết tha cuộc sống, đất nước và ước nguyện của tác giả. Cho biết mạch cảm xúc của bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải Từ xúc cảm trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên, mùa xuân đất nước, tác giả thể hiện khát vọng được dâng hiến “mùa xuân nho nhỏ” của mình vào mùa xuân lớn của cuộc đời chung. Cho biết bố cục của bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải - Hai khổ thơ đầu: Vẻ đẹp của thiên nhiên, đất trời vào Xuân và cảm xúc say sưa, ngây ngất của nhà thơ. - Khổ 3, 4: Vẻ đẹp và sức sống của đất nước qua mấy nghìn năm lịch sử. - Hai khổ cuối: Khát vọng và mong ước của nhà thơ. Nêu ý nghĩa văn bản và giá trị nghệ thuật của bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải 1. Ý nghĩa văn bản Bài thơ thể hiện những rung cảm tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên, đất nước và khát vọng được cống hiến cho đất nước, cho cuộc đời. 2. Giá trị nghệ thuật - Viết theo thể thơ năm chữ, nhẹ nhàng, tha thiết, mang âm hưởng gần gũi với dân ca. - Kết hợp hài hòa giữa những hình ảnh thơ tự nhiên, giản dị với những hình ảnh giàu ý nghĩa biểu trưng khái quát. - Sử dụng ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc với các ẩn dụ, điệp từ, điệp ngữ, sử dụng từ xưng hô,... - Có cấu tứ chặt chẽ, giọng điệu thơ luôn có sự biến đổi phù hợp với nội dung từng đoạn. Cảm nhận về hai khổ thơ đầu của bài “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải. Từ đó, em hãy rút ra bài học nhân sinh cho bản thân từ cách nghĩ, lối sống của nhà thơ. I. Mở bài - Trong văn học Việt Nam, thơ viết về mùa xuân nhiều và thơ viết hay về mùa xuân cũng không ít → “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải... - Bài thơ sáng tác 11/ 1980, nhà thơ đang nằm trên giường bệnh – không bao lâu trước khi qua đời. - Hai khổ thơ đầu → Bức tranh thiên nhiên, đất trời vào Xuân và cảm xúc say sưa, ngây ngất của nhà thơ. II. Thân bài Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt → đang cận kề cát bụi, sắp từ biệt cuộc đời → Điều rất lạ → Không nhìn cuộc đời bằng đôi mắt bi quan xám xịt hay buồn đau chất chứa. 1. Niềm say sưa, ngây ngất của tác giả trước vẻ đẹp của mùa xuân thiên nhiên, đất trời: “Mọc giữa vang trời” - Không cần nhiều sự vật, chỉ với một bông hoa, một tiếng chim → bức tranh mùa xuân vẫn hiện lên thật rõ nét, sống động, vui tươi. - Nghệ thuật đảo ngữ → từ “mọc” đặt đầu câu → như một sự phát hiện đầy bất ngờ, thú vị trước cảnh sắc thiên nhiên. - Giữa dòng sông xanh chảy nhẹ hiền hòa, một bông hoa tím biếc như đang khoe sắc trong ngày mới → Màu “tím biếc” thật nhẹ nhàng, tươi tắn và cũng đầy sức sống! → Thật hài hòa với sắc xanh lam dịu nhẹ của nước. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:6
  7. - Điểm thêm vào bức tranh → tiếng hót của con chim chiền chiện → Hai từ “vang trời” → sự trong trẻo, ngân vang của tiếng chim → Thiên nhiên thêm phần rộn rã, tươi vui. → Thán từ “ơi, hót chi” → tiếng lòng ngây ngất của nhà thơ trước vẻ đẹp đơn sơ của cuộc sống. - Như không ngăn được cảm xúc dâng tràn → thi sĩ có hành động rất lạ: “Từng giọt tôi hứng” → có hai từ được sử dụng độc đáo, đầy sức gợi: + “Giọt” → thường để chỉ hình dáng của sự vật cụ thể: giọt sương, giọt mưa → Ở đây là “giọt âm thanh” – sự vật trừu tượng → người đọc cảm tưởng: âm thanh tiếng chim không tan biến mà đọng lại, kết tinh lại thành hình, thành khối → phản chiếu ánh mặt trời nên long lanh, trong vắt. + “Hứng” → hứng từng giọt âm thanh → nghệ thuật chuyển đổi cảm giác mang đến sự liên tưởng thú vị: nhà thơ đưa tay hứng lấy tiếng chim hót trong trẻo, lấp lánh → hành động → thái độ trân trọng, nâng niu của nhà thơ trước vẻ đẹp cuộc sống.  Với vài nét phác họa → vẽ lên bức tranh thiên nhiên mùa xuân tươi vui, đầy sức sống, hài hòa âm thanh, đường nét, màu sắc → có sức lay động và làm đắm say lòng người. 2. Khổ thơ 2: Mùa xuân đất nước, sức sống mới của dân tộc: “Mùa xuân nương mạ” - Mùa xuân của đất nước được gợi lên bởi hai đối tượng: người cầm súng và người ra đồng: + “Người cầm súng” → chiến sĩ nơi tiền tuyến ngày đêm vững tay súng bảo vệ biên cương → mùa xuân hiện lên từ cành lá ngụy trang trên lưng. + “Người ra đồng” → nông dân ở hậu phương, luôn cần cù gieo trồng, cày cấy → mùa xuân nảy lên từ những nương mạ xanh tươi ngoài đồng ruộng. + Từ “lộc” → độc đáo, nhiều cách hiểu → chồi non, điều tốt đẹp, may mắn, sự sống mới. → Chính người chiến sĩ, người nông dân → gieo lộc mùa xuân, mang đến sức sống mới cho đất nước. - Trong nguồn cảm hứng dạt dào đó → đánh giá về không khí chung của cả dân tộc: “Tất cả xôn xao” → Điệp ngữ “tất cả như” + từ láy: hối hả, xôn xao → tạo âm điệu vui tươi, rộn rã cho câu thơ . → Cả dân tộc đang bước vào mùa xuân với khí thế khẩn trương, sôi nổi, phơi phới niềm tin. → Mọi người đang nỗ lực cống hiến công sức vào mùa xuân chung của đất nước.  Cùng với thiên nhiên, đất nước cũng đang bước vào một không khí mới. Mùa xuân của đất nước cũng thật tươi vui, căng tràn nhựa sống. III. Kết bài - Với cảm hứng lãng mạn bay bổng, từ ngữ và hình ảnh bình dị nhưng giàu tính gợi hình, gợi cảm, âm điệu tươi vui, rộn rã → Đoạn thơ như một khúc đoản ca về đất nước, quê hương. - Dù được sáng tác ở giây phút cuối đời → toát lên tinh thần lạc quan, thiết tha yêu cuộc sống → đáng trân trọng ở Thanh Hải. - Bài học nhân sinh: Cái chết là điểm dừng cuối cùng và tất yếu của con người → chết không phải là điều đáng sợ nhất. Điều đáng sợ là con người sống lúc nào cũng bi quan, chỉ biết nghĩ cho bản thân → sống mà cũng như đã chết → Để sống có ích: luôn rèn luyện bản thân, phải biết cống hiến cho cộng đồng, đất nước bởi “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình” 2.Trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” – Thanh Hải có đoạn bắt đầu bằng câu: Ta làm con chim hót. Viết tiếp những câu cón lại đến hết bài để có một đoạn thơ hoàn chỉnh. Phân tích đoạn thơ vừa chép. Nêu bài học em rút ra được từ nội dung đoạn thơ. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:7
  8. I. Mở bài “Có gì đẹp trên đời hơn thế Người với người sống để yêu nhau” - Thanh Hải là một trong những cây bút có công xây dựng nền văn học cách mạng . - Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được sáng tác khoảng tháng 11 năm 1980, khi tác giả đang nằm trên giường bệnh trước lúc qua đời. - Ba khổ thơ thể nguyện chân thành của nhà thơ được cống hiến cho đất nước, góp một phần nhỏ bé công sứ của mình vào mùa xuân lớn của đất nước và lời ngợi ca quê hương đất nước mến yêu. II. Thân bài 1.Ước nguyện của tác giả: - Từ cảm xúc của về mùa xuân của thiên nhiên , đất nước, mạch thơ chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ những suy ngẫm, khát vọng được muốn đóng góp sức lực của mình cho công cuộc xây dựng đất nước. ”Ta làm con chim hót ....Một nốt trầm xao xuyến” -> Điệp từ ” ta làm” được lặp đi lặp lại nhiều lần trong mỗi dòng thơ, sự thay đổi trong cách xưng hô ”tôi” -> ”ta” =>dường như nhà thơ không chỉ nói với chính mình mà còn muốn nhắn gửi tới mọi người. Làm con chim hót để cất lên bản tình ca ngợi cuộc sống ngợi ca mùa xuân tươi đẹp., làm nhành hoa dâng hương sắc tô điểm cho cuộc đời, những biểu lộ thật đẹp dâng hiến cho đời. - Mượn cái đẹp của thiên nhiên để nói lên niềm mong ước thiết tha của mình: + Làm con chim hót để gọi mùa xuân về , đem niềm vui cho mọi người + Là cành hoa tô điểm cho cuộc sống, làm đẹo thiên nhiên + Làm một nốt trầm của hòa ca làm xao xuyến lòng người, cổ vũ nhân dân (ẩn dụ độc đáo) -> giai điệu nhẹ nhàng, êm ái, ngọt ngào, thanh bằng liên tiếp => Ước nguyện thiết tha, nồng cháy. « Nếu là con chim chiếc lá Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh Lẽ nào vay mà không có trả Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình 2.Quan niệm sống của tác giả: Dù là tuổi hai mươi hai là khi tóc bạc là hai quãng đời trái ngược nhau. Nhưng dù ở thời điểm nào cũng không thay đổi lòng nhiệt huyết cống hiến cho đời. ”Một mùa xuân nho nhỏ Dù là khi tóc bạc” - Mùa xuân nho nhỏ=> ẩn dụ độc đáo => lẽ sống cao đẹp - Lặng lẽ -> chân thành, khiêm tốn. -> Điệp từ « dù là » , là biểu hiện sự quyết tâm cao độ đó là lời tự hứa chân thành sâu sắc của nhà thơ, bài thơ ra đời khi tác giả đang nằm trên giường bệnh phải chống chọi với căn bệnh hiểm nghèo thì điều đó lại càng quý biết bao. => Quan niệm sống đẹp, tiến bộ. 3.Tiếng hát thiết tha ngợi ca quê hương, đất nước : Bài thơ kết thúc bằng một âm điệu xứ Huế : điệu Nam ai, Nam Bình mênh mang tha thiết -> lời ngợi ca đất nước, biểu hiện của niếm tin yêu và gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương, đất nước => Câu hát chân tình, thắm thiết. III. Kết bài - Đoạn thơ mang âm hưởng nhẹ nhàng , tha thiết, cách gieo vần liền giữa các khổ thơ tạo sự liền mạch của dòng cảm xúc. - Nhà thơ nguyện làm một mùa xuân nho nhỏ, cống hiến cho đời . Nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường là một mùa xuân nhỏ góp vào mùa xuân lớn của đất nước, của cuộc đời chung. «Ôi ! sống đẹp là thế nào hỡi bạn Bữa cơm chỉ dưa muối đầy vơi GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:8
  9. Chân lí chẳng cần chi đổi bán Tình thương vô hạn để cho đời » - Bài học: cái chết là điểm dừng cuối cùng và tất yếu của con người → chết không phải là điều đáng sợ nhất. Điều đáng sợ là con người sống lúc nào cũng bi quan, chỉ biết nghĩ cho bản thân → sống mà cũng như đã chết → Để sống có ích: luôn rèn luyện bản thân, phải biết cống hiến cho cộng đồng, đất nước bởi “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”./. VIẾNG LĂNG BÁC - Viễn Phương Nêu hoàn cảnh sáng tác, mạch cảm xúc của bài thơ “Viếng lăng Bác” – Viễn Phương - Hoàn cảnh sáng tác: Năm 1976, sau ngày đất nước thống nhất, lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành, Viễn Phương ra thăm miền Bắc rồi vào lăng viếng Bác. Những tình cảm đối với Bác Hồ kính yêu đã trở thành nguồn cảm hứng để nhà thơ sáng tác bài thơ này. - Mạch cảm xúc: diễn ra theo trình tự cuộc vào lăng viếng Bác (trước khi vào lăng viếng Bác, khi vào trong lăng, trước khi ra về). Nêu1. ý nghĩa Ý nghĩa văn văn bản bản và giá trị nghệ thuật của bài thơ “Viếng lăng Bác” – Viễn Phương 2. Bài thơ thể hiện tâm trạng xúc động, tấm lòng thành kính, biết ơn sâu sắc của tác giả khi vào lăng viếng Bác. 2. Giá trị nghệ thuật - Giọng điệu vừa trang nghiêm, sâu lắng, vừa tha thiết, đau xót, tự hào, phù hợp với nội dung, cảm xúc của bài. - Viết theo thể tám chữ, có đôi chỗ biến thể, cách gieo vần và nhịp điệu thơ linh hoạt. - Sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh thơ, kết hợp cả hình ảnh thực, hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng có ý nghĩ khái quát và giá trị biểu cảm cao. - Lựa chọn ngôn ngữ biểu cảm, sử dụng các ẩn dụ, điệp từ có hiệu quả nghệ thuật. NhữngI. Mở cung bài - bậc Là người cảm xúccon của miền nhà Nam,thơ Viễn chắc Phương ai cũng từng khi mơđến ước viếng được lăng một Bác lần ra qua thăm bài lăng thơ Bác – nơi“Viếng vị cha lăng già Bác” kính yêu của dân tộc an nghỉ muôn đời. - Năm 1976, Viễn Phương đã có được niềm hạnh phúc đó → Kết quả của lần đi ấy là một bài thơ hay về Bác đã ra đời: Viếng lăng Bác. - Qua bài thơ → cảm nhận tinh tế những cung bậc cảm xúc của nhà thơ khi vào lăng viếng Bác. II. Thân bài- Bài thơ như một câu chuyện kể. - Mạch cảm xúc cũng diễn biến theo trình tự cuộc viếng lăng của nhà thơ. 1.Cảm xúc của nhà thơ khi vừa đến lăng (Khi vừa đến lăng,trong nhà thơ trào dâng niềm xúc động vô bờ): “Con ở đứng thẳng hàng” - Cũng như bất kì công dân Việt Nam nào, tác giả luôn dành cho Bác Hồ tình cảm đặc biệt → Xưng: “con”, gọi “Bác”→ vừa yêu thương, thân thiết, vừa kính trọng, lễ phép. - Như đã mong chờ từ lâu → Viễn Phương đến lăng từ rất sớm, khi sương còn giăng phủ không gian → Ấn tượng đầu tiên → hàng tre trước lăng + Cặp từ láy: bát ngát, xanh xanh → vẻ tươi tốt, đầy sức sống. + Hình ảnh này → gợi nhiều liên tưởng → Tre: quen thuộc, gắn bó muôn đời với người dân Việt Nam cả trong cuộc sống hàng ngày, trong lao động, chiến đấu (Liên hệ: truyện Thánh Gióng; “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” – Thép Mới; “Tre xanh?/ Xanh tự bao giờ?/ Chuyện ngày xưa... đã có bờ tre xanh” – Nguyễn Duy ) → tre là biểu tượng cho ý chí, phẩm chất người Việt Nam. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:9
  10. -Thành ngữ “bão táp mưa sa” được vận dụng thành công → sự khắc nghiệt của thời tiết → Trong giông bão, tre vẫn vững vàng “đứng thẳng hàng” → người dân Việt Nam vẫn luôn kiên cường vượt lên gian lao, thử thách.  Những câu thơ này, ngoài việc tả cảnh → niềm tự hào của nhà thơ về nhân dân, Tổ quốc. 2. Khi vào trong lăng viếng Bác → nhà thơ bày tỏ lòng thành kính thiêng liêng “Ngày ngày mùa xuân” - Trong đoạn thơ có 2 hình ảnh mặt trời: + Mặt trời thứ nhất → mặt trời của thiên nhiên. + “Mặt trời trong lăng rất đỏ” → Bác Hồ → thể hiện bằng nghệ thuật ẩn dụ → thái độ ngợi ca, tôn vinh Bác: Bác như mặt trời mang lại ánh sáng, sự sống cho cả dân tộc và cũng bất tử như vầng dương mãi rực sáng. - Hai câu sau → mang đến liên tưởng độc đáo → Những dòng người xếp hàng vào lăng được ví như những tràng hoa → Tràng hoa ấy được kết bằng tấm lòng nhớ thương tha thiết, thành kính, tri ân của đồng bào dành cho Bác – Người đã dành trọn 79 năm của cuộc đời cho Tổ quốc, dân tộc, “Ôi lòng Bác vậy cứ thương ta/ Thương cuộc đời chung thương cỏ hoa/ Chỉ biết quên mình cho hết thảy/ Như dòng sông chảy nặng phù sa” (Theo chân Bác - Tố Hữu). - Điệp từ “ngày ngày” tạo ấn tượng thời gian kéo dài vô tận → khẳng định: mặt trời kia sẽ là vĩnh viễn và tình cảm của nhân dân dành cho Bác cũng sẽ là mãi mãi. - Cảm xúc về Bác được tiếp tục khắc sâu:“Bác nằm... ở trong tim!” + Bác nằm đó với giấc ngủ bình yên → nói giảm → vừa làm vơi bớt nỗi buồn mất mát, vừa gợi vẻ ung dung, tự tại của Bác. + Vầng trăng sáng dịu hiền tạo một không gian yên bình tuyệt đối → Trăng xuất hiện nhiều trong thơ Bác (“Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ/ Trăng nhòm khe cửa ngắm nhà thơ” – Ngắm trăng; “Rằm xuân lồng lộng trăng soi” – Rằm tháng giêng; “Trăng vào cửa sổ đòi thơ” – Tin thắng trận) → trăng như người tri kỉ, tri âm → Bác không cô đơn. + Tuy trong trái tim mọi người, Bác sống mãi như trời xanh vĩnh viễn → thực tế: sự ra đi của Bác là mất mát lớn nhất của cả dân tộc → “Mà sao trong tim” → niềm đau xót, tiếc thương vô hạn đối với Bác. Có lẽ, cảm giác thành kính, yêu thương vốn đã tự nhiên trong lòng, nhưng khi đứng trước Người, niềm cảm xúc ấy trỗi dậy mãnh liệt hơn. 3. Trước khi ra về → lưu luyến, bịn rịn“Mai về chốn này” - Chia tay thủ đô, Bác Hồ → xúc động → “thương trào nước mắt” → thể hiện cụ thể, chân thực cảm xúc nhà thơ → nỗi nghẹn ngào làm tuôn rơi dòng lệ. - Trong niềm xúc động trào dâng → ước nguyện: muốn làm con chim để “hót quanh lăng”, đóa hoa “tỏa hương đâu đây”, cây tre “trung hiếu chốn này” → được bên Bác, làm đẹp, làm vui cho Bác. - Hình ảnh cây tre khép lại bài thơ → lời khẳng định sự bền bỉ, lòng kiên trung, sắt son với Tổ quốc của nhà thơ nói riêng, dân tộc nói chung → đáp lại sự hi sinh to lớn, cao cả của Người. III. Kết bài- Bài thơ → cảm xúc chân thành của nhà thơ dành cho Bác → giọng thơ tha thiết, trầm lắng, hình ảnh bình dị, đậm chất dân tộc, các biện pháp tu từ quen thuộc... - Viễn Phương đã đóng góp thêm vào nền văn học nước nhà một tác phẩm hay về chủ tịch Hồ Chí Minh./. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:10
  11. SANG THU Nêu hoàn cảnh sáng tác của bài thơ “Sang thu” – Hữu Thỉnh Bài thơ sáng tác năm 1977. Những suy nghĩ của người lính từng trải qua một thời trận mạc và cuộc sống khóNêu khăn ý nghĩa sau ngày văn đấtbản nước và giá thống trị nghệ nhất thuậtđọng lạicủa trong bài thơ những “Sang vần thu” thơ “Sang – Hữu thu” Thỉnh lắng sâu cảm xúc. 1. Ý nghĩa văn bản Bài thơ thể hiện những cảm nhận tinh tế của nhà thơ trước vẻ đẹp của thiên nhiên trong khoảnh khắc giao mùa. 2. Giá trị nghệ thuật - Khắc họa được hình ảnh thơ đẹp, gợi cảm, đặc sắc về thời điểm giao mùa hạ - thu ở nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ. - Sáng tạo trong việc sử dụng từ ngữ (bỗng, phả, hình như ), phép nhân hóa (sương chùng chình, sông được lúc dềnh dàng, ), phép ẩn dụ (sấm, hàng cây đứng tuổi). Phân tích bài thơ “Sang thu” – Hữu Thỉnh I. Mở bài- Mùa thu vốn là mùa của âm nhạc, thơ ca. Thơ về viết mùa thu nhiều, nhưng ở mỗi bài, nàng thu hiện lên với những nét độc đáo riêng. - Hữu Thỉnh cũng viết về mùa thu qua bài “Sang thu” → cảm nhận tinh tế của nhà thơ trong thời khắc giao mùa từ hạ sang thu. II. Thân bài. 1. Bốn câu đầu: Bức tranh thiên nhiên lúc chớm thu“Bỗng đã về” - Thời khắc giao mùa diễn ra rất nhẹ nhàng → phải thật tinh tế, nhạy bén mới cảm nhận được. - Khác với thơ cổ → mùa thu: không có lá vàng rụng, ánh trăng → cảm nhận thu sang qua hương ổi – loại quả quen thuộc của làng quê Việt Nam → “Bỗng”: sự phát hiện đột ngột, “phả”: diễn tả tinh tế trạng thái của mùi hương: tỏa ngào ngạt, nồng nàn trong gió thu. - Gió heo may se lạnh cũng là một nét đặc trưng khác của mùa thu → cái lạnh dễ vương vấn lòng người (Liên hệ: Nỗi nhớ của những chàng trai Hà thành về mùa thu Hà Nội: “Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/ Những phố dài xao xác hơi may”- Đất nước - Nguyễn Đình Thi). - Làn sương → Từ láy “chùng chình” → gợi tả, gợi cảm → sự chuyển động rất chậm, giăng mắc từ cành nọ sang cành kia, từ ngõ này sang ngõ khác. → nhân hóa → sương có tình cảm, cảm xúc: nửa muốn đi, nửa muốn ở, như đang chờ đợi ai đó. - Những dấu hiệu đó → nhận ra “Hình như thu đã về” → “Hình như” → chưa xác định chắc chắn bởi dáng thu, hơi thu còn quá nhẹ nhàng, mỏng manh.  Bốn câu đầu, cảm nhận bóng dáng nàng thu bằng nhiều giác quan → phải là người nhạy cảm, tha thiết yêu thiên nhiên, cuộc sống mới có cảm nhận tinh tế đó. 2. Bốn câu giữa: Chuyển biến của thiên nhiên khi đất trời vào thu “Sông sang thu” - Sông không còn chảy mạnh như trong ngày hạ → từ láy “dềnh dàng”: dòng chảy nhẹ nhàng, chậm rãi. - Cánh chim thì ngược lại “bắt đầu vội vã” → khi cái gió se lạnh tràn về, chim vội vã tìm nơi tránh rét. - Độc đáo và sáng tạo hơn cả → hình ảnh đám mây mùa hạ “Vắt nửa mình sang thu” → mây dường như còn lưu luyến, bịn rịn cùng mùa hạ → cuộc bàn giao giữa hạ với thu chưa dứt điểm → trong đám mây vừa có cái rực lửa, cháy bỏng của ngày hè, vừa có cái nhẹ nhàng, dịu mát của ngày thu. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:11
  12.  Hình ảnh quen thuộc nhưng được diễn đạt sáng tạo, nghệ thuật nhân hóa xuyên suốt đoạn thơ → diện mạo mùa thu hiện lên rõ nét, đẹp, thi vị. 3. Bốn câu cuối: suy ngẫm về cuộc đời “Vẫn còn đứng tuổi” - Mùa thu đã dần chiếm lĩnh không gian nhưng dấu ấn mùa hạ vẫn còn: nắng vẫn còn nhiều, mưa đã vơi đi. - Hai câu cuối vừa miêu tả thiên nhiên → vừa gợi suy ngẫm về cuộc sống, con người → tiếng sấm không ầm ỉ mà đã dần quen với hàng cây đứng tuổi → “sấm”: biến cố, bất thường của cuộc đời, “hàng cây đứng tuổi”: những người từng trải → Người từng trải, có nhiều kinh nghiệm sống sẽ rất bình tĩnh, không có nhiều dao động trước những biến cố của cuộc đời.  Đoạn thơ có sự kết hợp độc đáo giữa nét thi vị và chất triết lí → thơ vẫn mang hơi thở cuộc sống. III. Kết bài - Hình ảnh giàu sức gợi, từ ngữ tinh tế → bức tranh đẹp thời điểm giao mùa từ hạ sang thu. - Đọc bài thơ → người đọc khám phá ra cái đẹp của đất trời vào thu → thêm yêu quê hương, đất nước./. NÓI VỚI CON - Y Phương Nêu ý nghĩa văn bản và giá trị nghệ thuật của bài thơ “Sang thu” – Hữu Thỉnh 1. Ý nghĩa văn bản Bài thơ thể hiện tình yêu thương thắm thiết của cha mẹ dành cho con cái; tình yêu, niềm tự hào về quê hương, đất nước. 2. Giá trị nghệ thuật- Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình tha thiết, trìu mến. - Xây dựng hình ảnh thơ vừa cụ thể, vừa mang tính khái quát, mộc mạc mà vẫn giàu chất thơ. - Bố cục chặt chẽ, dẫn dắt tự nhiên. Thông điệp về tư tưởng mà người cha muốn gửi đến con qua bài thơ “Nói với con” – Y Phương I. Mở bài- Từ thuở nằm nôi, ai cũng đã thuộc lòng câu hát: “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra ” → công lao dưỡng dục, tình yêu thương của cha, mẹ bao giờ cũng sâu nặng, mênh mông. - Y Phương có bài thơ “Nói với con” rất xúc động về tình cảm gia đình → Người cha đã gửi đến con bức thông điệp về tư tưởng thật sâu sắc. II. Thân bài 1. Con được sinh ra và lớn lên trong tình yêu thương, sự nâng đỡ của cha mẹ “Chân phải tiếng cười” → Đoạn thơ mở ra một mái ấm gia đình → đứa bé đang chập chững bước đi đầu tiên → cha mẹ luôn cận kề, dang rộng đôi tay nâng niu, chào đón. → Cách diễn đạt trừu tượng → không gian bình dị, hạnh phúc, tràn ngập niềm vui: cha mẹ, con cái quấn quýt, cười đùa → cũng là nơi con được nuôi dưỡng, chở che để trưởng thành.  Gia đình có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi con người. 2. Con còn được lớn lên trong vòng tay của “người đồng mình” và nghĩa tình quê hương “Người đồng mình trên đời” - “Người đồng mình” → bình dị mà gắn bó, chứa chan tình cảm → đáng nhớ: người đồng mình tuy cuộc sống vất vả nhưng rất lạc quan và tràn ngập niềm vui. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:12
  13. - Hình ảnh “đan lờ cài nan hoa/ vách nhà ken câu hát” gợi hình, gợi cảm → không khí lao động vui tươi, gắn bó: trong mỗi nếp đan như nở ra hoa, chen vào khoảng vách là âm thanh tiếng hát. - Rừng núi, suối ghềnh quê hương bình dị, thân quen nhưng cũng thật thơ mộng, trữ tình → cái đẹp toát lên từ những đóa hoa rừng, con đường ta đi.  Tâm hồn con đã được nuôi dưỡng, nâng đỡ từ tình cảm của đồng bào và quê hương. 3. Nhắc con nhớ về đức tính cao đẹp của “người đồng mình” - Yêu lao động, có ý chí vươn xa, vươn cao:“Người đồng mình chí lớn” → các từ “cao, xa” → không gian khoáng đạt, rộng lớn → ở đó, người đồng mình gửi gắm bao ước mơ, hoài bão, bao tâm sự, nỗi lòng. - Sức sống bền bỉ, mạnh mẽ: “Người đồng mình thô sơ phong tục” → đối, ẩn dụ: “thô sơ da thịt, nhỏ bé” → thái độ ngợi ca của tác giả đối với “người đồng mình” → lam lũ, cực nhọc nhưng bền bỉ, mạnh mẽ, không nhụt chí. → “Tự đục đá kê cao quê hương” gợi nhiều liên tưởng → vượt qua mọi thử thách, gian nan để bám trụ và xây dựng quê hương, làm cho quê hương ngày càng giàu đẹp, vững bền → còn tạo nên những nét đẹp riêng cho mình → cái mà người ta gọi là “phong tục”.  Ẩn chứa tình yêu thương và niềm tự hào vô bờ về đồng bào, dân tộc. 4. Lời nhắn nhủ, mong ước của cha đối với con “Dẫu làm sao cực nhọc” - Phải vẹn nghĩa tình, thủy chung với quê hương dù cuộc sống có khó khăn, thiếu thốn → Điệp cấu trúc → lời nhắc đầy yêu thương nhưng cũng thật nghiêm khắc. - So sánh → vừa gợi lên hình ảnh quê hương, vừa gợi nhắc con về ý chí, nghị lực để vượt lên hoàn cảnh. - Bốn câu cuối → tiếp tục niềm mong ước của cha:“Con ơi Nghe con” → Ẩn dụ: “nhỏ bé” → không nhỏ bé → không nhụt chí, cúi đầu trước hoàn cảnh.  Với người cha, con kế thừa phẩm chất cao đẹp của người đồng mình, đó vừa là hạnh phúc nhưng cũng là trách nhiệm → con phải làm đẹp thêm cho hình ảnh người đồng mình. III. Kết bài - Với hình ảnh gợi cảm, ngôn ngữ bình dị, đậm màu sắc dân tộc, giọng điệu tâm tình tha thiết → bài thơ vừa là lời nhắn nhủ mong ước, vừa thể hiện tình yêu thương con tha thiết của cha đối với con. - Qua bài thơ → thêm yêu và tự hào về vẻ đẹp tâm hồn của dân tộc miền núi → có thêm những bài học tư tưởng quý báu - Ý thức trách nhiệm của người con: nhận thấy được công lao to lớn của cha, mẹ; thấu hiểu, cảm thông những trăn trở, suy tư của cha mẹ về con cái → ngoan ngoãn, vâng lời, quyết tâm học tập, trau dồi đạo đức ./. NGHỊ LUẬN VỀ TÁC PHẨM TRUYỆN, ĐOẠN TRÍCH LÀNG - Kim Lân Tóm tắt truyện ngắn “Làng” – Kim Lân Vì hoàn cảnh chiến tranh, ông Hai cùng gia đình buộc phải bỏ làng đi tản cư. Ở nơi tản cư, ông luôn nhớ về làng của mình. Hằng ngày, ông thường ra phòng thông tin tuyên truyền nghe đọc báo để vui cùng tin chiến thắng. Một ngày, như thường lệ, vừa ra khỏi phòng thông tin, ông gặp một đám người ở Gia Lâm tản cư lên. Qua họ, ông biết tin làng Chợ Dầu của mình theo giặc. Dù không tin nhưng trước những chứng cớ họ GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:13
  14. đưa ra, ông đành chấp nhận một cách đau khổ. Ông xót xa, tủi hổ, ở liền trong nhà mấy ngày không dám gặp ai, sợ nhất là mụ chủ nhà sẽ đuổi gia đình mình đi. Không biết chia sẻ cùng ai, ông tâm sự với đứa con nhỏ như khẳng định lòng trung thành của ông với cách mạng, với Bác Hồ. Làng thì ông yêu thật, nhưng làng theo giặc thì phải thù. Rồi tin làng Chợ Dầu theo giặc được cải chính. Niềm vui trở lại với ông Hai. Ông tiếp tục nói về làng, nói về cuộc chiến đấu giữ làng như chính ông từng tham gia. Nêu ý nghĩa văn bản và giá trị nghệ thuật của đoạn trích truyện ngắn “Làng” – Kim Lân 1. Ý nghĩa văn bản Đoạn trích thể hiện tình cảm yêu làng, tinh thần yêu nước của người nông dân trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp. 2. Giá trị nghệ thuật - Tạo tình huống truyện gay cấn: tin thất thiệt được chính những người đang đi tản cư từ phía làng Chợ Dầu lên nói ra. - Miêu tả tâm lí nhân vật chân thực và sinh động qua suy nghĩ, hành động, qua lời nói (đối thoại và độc thoại). Tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” – Kim Lân I. Mở bài - Mỗi người luôn dành cho quê hương một tình yêu đặc biệt. Tình cảm ấy càng cháy bỏng, mãnh liệt khi đặt trong những thử thách nghiệt ngã. - Nhân vật ông Hai trong “Làng” – Kim Lân là một minh chứng. LĐ:Ông không chỉ nặng lòng với quê hương và còn thiết tha yêu nước. II. Thân bài 1. Người nông dân yêu làng - Làng đối với người dân rất quan trọng → ngôi nhà chung cho cộng đồng, làng mạc, là gốc rễ, cội nguồn → Ông Hai hay khoe → không phải khoe bản thân mà khoe về làng của ông. - Cái gì của làng cũng đều đáng tự hào, hãnh diện: + Phòng thông tin sáng sủa, rộng rãi nhất vùng, chòi phát thanh cao, loa gọi cả làng đều nghe thấy. + Nhà ngói san sát, đường làng lát đá xanh, trời mưa, gió tha hồ đi khắp làng, bùn không dính gót chân. → Trong suy nghĩ của Ông, làng Ông rất giàu có, to đẹp. - Thời cuộc đổi thay, niềm tự hào về làng, việc khoe làng không hề thay đổi: + Trước Cách mạng → khoe cái sinh phần của viên tổng đốc làng. + Sau Cách mạng → tự hào vì làng ông là làng kháng chiến “những hố, những ụ, những giao thông hào của làng ông thì làm công trình không để đâu hết” → Ông kể với tâm trạng “Say mê, náo nức”, không cần biết mọi người có nghe hay không → giây phút hạnh phúc của người con xa làng lâu ngày, ông kể như chính ông được đứng trong làng để nói về làng cho những người khách phương xa. → Kể về làng → vừa để khoe làng, vừa để giải tỏa nỗi nhớ trong lòng. + Quá yêu làng → nhất quyết không đi tản cư → khi buộc phải cùng gia đình đi tản cư, ông “ít nói, ít cười, cái mặt lúc nào cũng lầm lầm” → chất chứa nỗi buồn khổ trong lòng.  Yêu làng, tự hào về làng như đứa con yêu mẹ, tự hào về mẹ. 2. Người nông dân yêu nước a) Theo dõi sát sao tin tức về kháng chiến GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:14
  15. Ông nghe “chẳng sót một câu”: cảm phục em bé dũng cảm ở Hà Nội, xúc động trước cái chết của anh trung đội trưởng, hả hê trước thất bại của quân giặc → người nông dân không còn chỉ biết nghĩ đến miếng cơm, manh áo mà còn quan tâm đến vấn đề lớn của thời đại: cuộc kháng chiến đang diễn ra sôi nổi. b) Nghe tin làng Chợ Dầu theo giặc → tâm trạng đầy phức tạp: - Câu nói của người đàn bà “Cả làng chúng nó Việt gian theo Tây còn giết gì nữa” → vết dao cứa vào tim ông → chưa dám tin là sự thật. - Nỗi đau xâm chiếm tâm hồn, cổ “nghẹn ắng hẳn lại”, “lặng đi tưởng như đến không thở ngạc nhiên, đau đớn, tủi hổ, uất ức ” → diễn tả tinh tế, chân thực tâm trạng của Ông Hai: → trước đây: làng là niềm tự hào, giờ: làng là nỗi đau khổ → như bị mất một cái gì quý giá, thiêng liêng. - Không dám nhìn mặt ai, vờ “lảng ra chỗ khác”, “cúi gằm mặt xuống” rồi đi thẳng về nhà → tránh ánh nhìn của mọi người -Về nhà: “nằm vật ra giường”, nước mắt cứ trào ra → nhục nhã, mặc cảm → ông thấy như chính mình mang nỗi nhục của một tên Việt gian → xuất hiện những suy nghĩ về tương lai đen tối: bị hắt hủi, khinh bỉ, căm thù, nhất là khi nhìn những đứa con “Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy?” → sống nội tâm, khép kín, sợ tiếp xúc với mọi người “Không dám bước chân ra đến ngoài”, e dè trước những lời bàn tán. - Hàng ngày, Ông ăn không ngon, ngủ không yên, chỉ biết ôm con mà than thở, thố lộ nỗi lòng như “để minh oan” → nói ra được, ông cảm thấy nhẹ đôi phần. - Quan điểm của ông thật rõ ràng, dứt khoát → đâm ra thù cái làng đã phản kháng chiến “Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi” → suy nghĩ “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù” → khi phải đặt mình trong hoàn cảnh phải chọn lựa giữa làng và kháng chiến → chọn kháng chiến, “ủng hộ cụ Hồ Chí Minh” (câu nói của con ông). c) Khi tin đồn được cải chính - Vui mừng, khuôn mặt “bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên”. - Lật đật đi khoe “Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ” → đáng ngạc nhiên: bị đốt nhà không đáng buồn mà lại đáng mừng, vui → minh chứng thuyết phục nhất, tuyệt vời nhất cho việc không theo giặc, nhất quyết đứng về phía kháng chiến của làng, của ông → Có lẽ, nếu phải đánh đổi điều gì to tát hơn để được minh oan, ông cũng không ngần ngại! → Nỗi oan đã được giải → đồng nghĩa: tin làng Chợ Dầu làm Việt gian là “láo”, “sai sự mục đích cả” → tin cải chính như đem lại sự hồi sinh cho ông.  Hai trạng thái tâm lí khác nhau dưới sự tác động của hai tin tức khác nhau → nổi bật tấm lòng yêu nước tha thiết ở ông Hai → nhất quán, không thay đổi dù trong bất kì hoàn cảnh nào. III. Kết bài - Bằng ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật sâu sắc, tình huống độc đáo, ngôn ngữ bình dị mà chọn lọc, Kim Lân đã xây dựng thành công nhân vật ông Hai – biểu tượng đẹp của người nông dân yêu nước, yêu làng - Thái độ trân trọng, yêu quý của tác giả đối với người nông dân. → Kim Lân được mệnh danh là nhà văn của người nông dân. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:15
  16. CHIẾC LƯỢC NGÀ Nguyễn Quang Sáng Cho biết hoàn cảnh sáng tác của truyện “Chiếc lược ngà” và vị trí phần trích trong SGK - Truyện được viết năm 1966, khi tác giả đang hoạt động ở chiến trường Nam Bộ. - Vị trí đoạn trích: nằm ở phần giữa truyện. Tóm tắt tác phẩm “Chiếc lược ngà” – Nguyễn Quang Sáng Anh Sáu đi kháng chiến từ khi đứa con gái duy nhất của anh chưa đầy một tuổi. Từ đó, hai ba con chưa hề gặp lại nhau. Mãi đến khi bé Thu – tên con gái anh Sáu – lên tám, anh mới có dịp về thăm nhà. Anh nôn nóng được gặp con, nhưng bé Thu không chịu nhận anh là ba. Trong ba ngày ở nhà, anh đã làm đủ mọi cách nhưng bé Thu vẫn lảng tránh và nhất định không gọi tiếng “Ba”. Một lần, anh giận quá, đánh con vì nó cố tình hất tung cái trứng cá anh gắp cho nó, bé Thu giận dỗi bỏ sang nhà ngoại. Đến lúc anh phải ra đi nhận nhiệm vụ mới, bé Thu mới chịu gọi tiếng ba. Thì ra, trước đây, bé không chịu nhận ba vì vết thẹo trên má khiến anh không còn giống như trong bức ảnh chụp ngày cưới. Ở chiến khu, anh luôn ân hận vì lỡ đánh con. Anh đã dồn hết tình yêu thương vào chiếc lược ngà – món quà anh tự tay làm để tặng cho con. Chiếc lược làm xong nhưng chưa kịp trao cho con thì anh đã hi sinh. Anh đã nhờ đồng đội mang về cho con kỉ vật đơn sơ mà chứa chan tình cha này. Nêu ý nghĩa văn bản và giá trị nghệ thuật của truyện “Chiếc lược ngà” – Nguyễn Quang Sáng 1. Ý nghĩa văn bản Là câu chuyện cảm động về tình cha con sâu nặng, Chiếc lược ngà cho ta hiểu thêm về những mất mát to lớn của chiến tranh mà nhân dân ta đã trải qua trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. 2. Giá trị nghệ thuật - Tạo tình huống truyện éo le. - Có cốt truyện mang yếu tố bất ngờ. - Lựa chọn người kể chuyện là bạn của ông Sáu, chứng kiến toàn bộ câu chuyện, thấu hiểu cảnh ngộ Phân tích tình cha con sâu nặng của nhân vật ông Sáu và bé Thu trong đoạn trích truyện ngắn và tâm trạng của nhân vật trong truyện. “Chiếc lược ngà” – Nguyễn Quang Sáng I. Mở bài - Tình mẫu tử là nguồn cảm hứng bất tận của văn học. Dầu vậy, trong văn chương, ta vẫn bắt gặp những trang viết rất hay về tình phụ tử → “Chiếc lược ngà” - Nguyễn Quang Sáng. - Qua hai nhân vật ông Sáu – người cha, bé Thu – con gái → cảm nhận được một cách sâu sắc, cảm động về tình cha, con sâu nặng. II. Thân bài - Chiến tranh đã chia cắt những gia đình. Anh Sáu xa nhà, xa con khi nó chưa tròn tuổi. - Ngày anh về phép → nôn nóng được gặp con, được con gọi tiếng ba → Thật bất ngờ, bé Thu đã không chịu nhận anh là ba → Trong tình huống éo le đó, ta dần khám phá ra được tình cảm sâu nặng mà hai người dành cho nhau. 1. Tình cha đối với con a) Anh Sáu nôn nóng gặp con: GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:16
  17. - Thấy đứa bé chừng 7, 8 tuổi, tóc ngang vai → biết ngay đó là con mình → linh cảm của một người cha đã giúp ông nhận ra đứa con ông thương nhớ bấy lâu nay. - Xuồng chưa cập bến → nhún chân nhảy thót lên bờ, cất tiếng gọi “Thu! Con”. - Quá xúc động → giọng nói trở nên lặp bặp, như nghẹn lại: “Ba đây con!” → có lẽ, ông cũng khao khát đứa con gái sẽ chạy nhào tới, ôm chầm lấy ông mà cất tiếng gọi “Ba, ba...” → Bất ngờ bé Thu sợ hãi, chạy đi, kêu thét lên”má má” → Ông hụt hẫng, đau đớn “mặt anh sầm lại hai tay buông xuống như bị gãy”. b) Trong những ngày nghỉ phép ở nhà,anh dành tình cảm cho con: - Ông luôn tìm mọi cách để thể hiện tình thương con và cũng để bé Thu chịu nhận ba: + Chẳng đi đâu → lúc nào cũng chăm sóc, “vỗ về con” → dành thời gian để bù đắp cho con. + Anh kiên nhẫn chờ con gọi: “Ba vô ăn cơm”, đợi con nhờ chắt dùm nồi cơm đang sôi → chỉ có tình yêu thương con vô hạn mới có thể làm anh kiên nhẫn và khổ tâm đến thế. + Trong bữa cơm, anh gắp cho con trứng cá to vàng → phần thức ăn ngon nhất → con bé hất cái trứng ra → anh “vung tay đánh vào mông nó” → nỗi tức giận của một người cha trước đứa con không ngoan → đánh con mà lòng xót xa, quặn thắt. c) Lúc anh Sáu chuẩn bị ra đi - Anh muốn ôm con, hôn con, nhìn con với đôi mắt trìu mến → ánh mắt chứa chan bao tình cảm. - Trước tiếng gọi “ba” và cái ôm rất chặt của con → “rút khăn lau nước mắt, rồi hôn lên mái tóc con” → niềm xúc động dâng trào → giây phút hạnh phúc, mãn nguyện nhất của anh kể từ ngày về thăm nhà → niềm khao khát đã được toại nguyện. d) Lúc ở chiến trường - Nỗi nhớ con vẫn không nguôi → ân hận vì đã lỡ tay đánh con. - Anh dồn tất cả tình thương con vào chiếc lược ngà: + Vui mừng, sung sướng khi nhặt được khúc ngà voi “hớt hải chạy về như một đứa trẻ được quà”. + Anh làm cây lược với tất cả sự công phu, khéo léo “cưa từng chiếc răng”, tẩn mẩn khắc từng nét “Yêu nhớ tặng con Thu của ba” → Dòng chữ đơn sơ mà chứa chan bao tình cảm. + Anh thường lấy cây lược ra ngắm nghía, mài lên tóc cho thêm bóng, thêm mượt → cây lược làm dịu đi nỗi nhớ thương con, vừa làm cho nỗi khát khao gặp lại con thêm cháy bỏng → có cây lược, anh thấy như có con gái ở bên mình. + Chưa kịp trao tận tay con chiếc lược, anh đã hi sinh → Khi người đồng đội hứa mang chiếc lược về trao tận tay con anh → nhắm mắt đi xuôi → chi tiết xúc động → dường như anh đã mãn nguyện khi làm thỏa mãn được mong ước của con.  Tình thương con của cha, mẹ không bao giờ vơi cạn dù phải qua bao thử thách. 2. Tình con đối với cha a) Lúc mới gặp lại anh Sáu và trong thời gian anh Sáu ở lại nhà - Trái với thái độ mừng rỡ của anh Sáu → Thu ngạc nhiên, sợ hãi, vụt chạy đi. - Trong thời gian có mặt anh Sáu ở nhà → tìm mọi cách để tránh nói chuyện với anh, tránh tiếp xúc với anh: + Nhất định không chịu gọi ba vô ăn cơm mà chỉ nói trổng “Vô ăn cơm!”. + Lúng túng trước nồi cơm đang sôi → tìm cách tự chắt nước, nhất định không nhờ ông giúp. + Anh Sáu gắp cho cái trứng cá to → “hất cái trứng ra, cơm văng tung tóe” → bị ba đánh → giận dỗi bơi xuồng sang ngủ nhà ngoại không về. → tỏ thái độ kiên quyết không chấp nhận sự chăm sóc và tình cảm của anh → phủ nhận sự tồn tại của người “ba” mà theo nó là không phải. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:17
  18. b) Lúc anh Sáu chuẩn bị ra đi - Bé Thu đứng ở góc nhà → vẻ mặt không bướng bỉnh hay cau có mà “sầm lại buồn rầu” , như đang “nghĩ ngợi sâu xa” → chuyển biến mạnh mẽ trong tâm trạng. - Anh Sáu từ giã → thét lên “Ba a a ba!”, chạy xô tới ôm chặt lấy ba nức nở “Không cho ba đi nữa! Ba ở nhà với con!”, dang cả hai chân câu chặt lấy ba, hôn ba cùng khắp → Thu khao khát có được một người ba, thèm được gọi ba đã lâu → khao khát ấy càng mãnh liệt hơn khi biết mình không còn cơ hội để bên ba. - Nguyên nhân tạo nên sự thay đổi trong thái độ và cách ứng xử của bé Thu → chiếc thẹo trên mặt ông Sáu → ông không giống với người chụp trong hình cưới với mẹ → nhất định không nhận ông Sáu là ba, cho rằng ông chỉ là “ba giả” → trước, sau, tính cách bé Thu vẫn nhất quán: tấm lòng yêu ba tha thiết → Trong bé Thu chỉ có người ba duy nhất là người đàn ông trong hình cưới của mẹ thôi, không thể chia sẻ, thay thế. - Chi tiết: bé Thu “hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài bên má của ba” → thật xúc động → sự hối hận của bé Thu vì đã vô tình làm ba buồn, bù đắp lại những tổn thương mà mấy ngày qua bé đã gây cho ba.  Cũng như tình cảm của cha, mẹ đối với con cái, con cái bao giờ cũng khát khao va thấy hạnh phúc khi được sống trong vòng tay yêu thương của mẹ, cha. III. Kết bài - Truyện đi vào lòng người đọc → trước hết ở tư tưởng ngợi ca tình phụ tử thiêng liêng → sau nữa: sự giản dị, chân thật trong ngôn ngữ, tình huống truyện hợp lí. - Thông điệp đầy tính nhân văn: chiến tranh có thể tàn phá nhiều thứ nhưng không thể ngăn cách và hủy diệt tình cảm của con người. → “Chiếc lược ngà” là một trong những tác phẩm hay nhất của Nguyễn Quang Sáng./. GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:18
  19. LẶNG LẼ SA PA - Nguyễn Thành Long Nêu xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác của truyện “Lặng lẽ Sa Pa” – Nguyễn Thành Long - Hoàn cảnh sáng tác: là kết quả của chuyến đi lên Lào Cai trong mùa hè 1970 của tác giả. - Xuất xứ: trích từ tập “Giữa trong xanh” (1972). Tóm tắt tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa” – Nguyễn Thành Long Trên chuyến xe từ Lào Cai lên Sa Pa, qua sự giới thiệu của bác lái xe, ông họa sĩ già và cô kĩ sư nông nghiệp làm quen với anh thanh niên 26 tuổi đang công tác một mình trên đỉnh Yên Sơn cao 2600m, người mà bác lái xe cho là “cô độc nhất thế gian”. Anh thanh niên mời họ lên thăm nhà. Khi mọi người ngắm vườn hoa, anh tặng cho cô gái bó hoa tươi và trò chuyện với họ về công việc vất vả nhưng cũng rất lí thú, có ý nghĩa của mình. Đó là việc dự báo thời tiết để phục vụ sản xuất và chiến đấu. Anh cũng đã giới thiệu với bác họa sĩ về những người khác đang công tác tại đây mà theo anh, họ xứng đáng được bác vẽ hơn là mình. Đến lúc chia tay, bác họa sĩ hẹn ngày quay lại. Anh thanh niên lấy lí do sắp đến giờ “ốp” không tiễn khách, mà chỉ tặng trứng gà cho khách ăn dọc đường. Anh đã mang lại những ý nghĩ tốt đẹp cho ông họa sĩ và cô kĩ sư. Nêu ý nghĩa văn bản và giá trị nghệ thuật của truyện “Lặng lẽ Sa Pa” – Nguyễn Thành Long 1. Ý nghĩa văn bản Lặng lẽ Sa Pa là câu chuyện về cuộc găp gỡ với những con người trong một chuyến đi thực tế của nhân vật ông họa sĩ, qua đó, tác giả thể hiện niềm yêu mến đối với những con người có lẽ sống cao đẹp đang lặng lẽ quên mình cống hiến cho Tổ quốc. 2. Giá trị nghệ thuật - Tạo tình huống truyện tự nhiên, tình cờ, hấp dẫn. - Xây dựng đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm. - Nghệ thuật tả cảnh thiên nhiên đặc sắc; miêu tả nhân vật với nhiều điểm nhìn. - Kết hợp giữa kể với tả và nghị luận. - Tạo tính chất trữ tình trong tác phẩm truyện. Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong “Lặng lẽ Sa Pa” – Nguyễn Thành Long. Từ đó, liên hệ ý thức, trách nhiệm của bản thân đối với gia đình, đất nước. I. Mở bài - Văn học Việt Nam hiện đại đã sáng tạo được nhiều hình tượng đẹp về con người Việt Nam trong lao động và chiến đấu → truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” - Nguyễn Thành Long là một minh chứng. - Tác phẩm ra đời sau chuyến đi Lào Cai trong mùa hè 1970. - Anh thanh niên trong truyện đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với người đọc bởi vẻ đẹp trong suy nghĩ, tính cách và lí tưởng sống. II. Thân bài GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:19
  20. - Trên chuyến xe từ Lào Cai lên Sa Pa, qua giới thiệu của bác lái xe, ông họa sĩ già và cô kĩ sư nông nghiệp có dịp làm quen với anh thanh niên. - Dõi theo cuộc trò chuyện của họ, người đọc dần khám phá ra vẻ đẹp đáng quý ở anh. 1. Một chàng trai “thèm người”, hiếu khách - “Thèm người” → phải được hiểu là thích gặp gỡ, trò chuyện với mọi người → lúc mới nhận việc, có lần anh đã đẩy khúc cây chắn ngang đường cho xe dừng lại để được “nhìn trông và nói chuyện một lát” với mọi người → đem đến cảm giác ngạc nhiên nhưng khá thích thú cho người đọc → khơi dậy ở người đọc niềm cảm thông đối với anh thanh niên trẻ, làm việc nơi vắng vẻ, thưa người. - Niềm nở, không giấu nỗi xúc động khi được bác họa sĩ và cô gái lên thăm nhà → “nói to những điều đáng lẽ người ta chỉ nghĩ” → bác và cô là đoàn khách thứ hai, riêng cô là cô gái thứ nhất từ Hà Nội đến thăm nhà anh. - Anh trò chuyện tự nhiên, sôi nổi như với những người đã quen thân từ lâu, tặng cho khách những món quà do chính anh làm ra: củ tam thất cho vợ bác lái xe bình phục sức khỏe sau khi ốm, bó hoa tươi được cắt từ vườn hoa anh trồng cho cô gái, làn trứng cho bác họa sĩ → giá trị của những món quà không nằm ở phương diện vật chất mà chính ở ý nghĩa của nó → bình dị mà chứa chan tình cảm, sự quan tâm anh dành cho mọi người.  Tính cách “thèm người” là yếu tố đầu tiên giúp anh gây được thiện cảm với người đọc. 2. Chàng trai có ý thức trách nhiệm và say mê công việc - Làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa cầu, quanh năm sống trên đỉnh Yên Sơn cao hơn hai ngàn sáu trăm mét, chỉ có cỏ cây và mây núi bầu bạn → chưa bao giờ anh thấy cuộc sống của mình tẻ nhạt và buồn chán → lời tâm sự: “khi ta làm việc, ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được?”. - Biết công việc của mình là gian khổ nhưng “thiếu nó, anh buồn đến chết mất” → là niềm vui, nguồn sống, một phần không thể thiếu trong cuộc sống → Có lúc, do yêu cầu công việc → giữa đêm đông giá rét → vẫn thức giấc, xách đèn “đi ốp”, xách máy đi đo không sót một ngày nào, không quên một buổi nào.  Anh đã dùng tất cả thời gian, nhiệt huyết, tâm trí và sức lực cho công việc → ý thức rất rõ ý nghĩa công việc mình đang làm: góp phần quan trọng vào việc phục vụ cho sản xuất và chiến đấu → Anh đã sống và cống hiến một cách thầm lặng, hết mình. 3. Chàng trai có lí tưởng sống đẹp, khiêm tốn - Có quan niệm về hạnh phúc thật giản dị nhưng cũng thật cao đẹp, đáng quý: được lao động, được cống hiến → khi biết việc mình phát hiện đám mây khô mà không quân ta đã hạ được nhiều máy bay Mĩ, anh rất vui và có phần hãnh diện vì thấy mình đã làm được việc có ích cho đất nước. - Biết tìm cách để vượt qua nỗi buồn tẻ → đọc sách → sách như người bạn, người cùng trò chuyện; biết cách làm đẹp cho cuộc sống của mình: nuôi gà, trồng rau. - Khi biết bác họa sĩ đang vẽ mình → từ chối vì thấy mình “không xứng đáng” → giới thiệu cho bác những người bạn của mình: ông kĩ sư vườn rau, đồng chí nghiên cứu về sét → nhận định công việc của mình là bình thường, trân trọng những đóng góp của đồng đội, bạn bè.  Khoe khoang thành tích hay kể khổ không phải là tính cách của anh → làm ta càng thêm yêu, thêm quý anh. III. Kết bài - Bằng tình huống truyện tự nhiên, kết hợp kể, tả, nghị luận, miêu tả nhân vật với nhiều điểm nhìn → xây dựng thành công nhân vật anh thanh niên. - Anh → hình tượng tiêu biểu cho những con người say mê lao động, lặng lẽ quên mình cống hiến cho Tổ quốc GV: Hồ Thị Ngọc Lan Trang:20