Đề kiểm tra cuối học kỳ I môn Tiếng Việt Lớp 4 - Năm học 2024-2025 - Trường Tiểu học Trung Lập (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Đề kiểm tra cuối học kỳ I môn Tiếng Việt Lớp 4 - Năm học 2024-2025 - Trường Tiểu học Trung Lập (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_kiem_tra_cuoi_hoc_ky_i_mon_tieng_viet_lop_4_nam_hoc_2024.docx
HD chấm TV4 HKI.docx
Nội dung text: Đề kiểm tra cuối học kỳ I môn Tiếng Việt Lớp 4 - Năm học 2024-2025 - Trường Tiểu học Trung Lập (Có đáp án)
- Số báo danh: . . . . . . . . . . . . . . BÀI KIỂM TRA CUỐI HỌC KÌ I Người Người Phòng thi: . . . . . . . . . . . . . . . . NĂM HỌC 2024-2025 coi chấm Điểm Môn Tiếng Việt - Lớp 4 (Thời gian làm bài: 60 phút) Bằng chữ: . . . . . . . . . . . . . . A. KIỂM TRA ĐỌC (10 điểm) I. Kiểm tra đọc thành tiếng: (3 điểm) Học sinh bốc thăm 1 trong các bài sau và trả lời câu hỏi(Nguồn Sách Cánh diều Tiếng Việt 4- Tập 1): 1) Bài: Mảnh sân chung Hai gia đình chung mảnh sân nhỏ bé. Không có nết vạch nào chia đôi cái sân, nhưng thường mỗi sáng đều thấy cái sân được phân chia khá rõ: Bên nhà Thuận đã quét sạch phần sân của mình từ sáng sớm, còn nhà Liên thì lá rụng đầy, mãi đến chiều tối Liên mới quét. Sáng thứ Hai đầu tuần, Thuận xách chổi ra quét sân. Quét sạch phần bên nhà mình, Thuận đúng lại ngắm nghĩa. Bỗng Thuận thấy bực bực vì cái sân chia hai nửa. Thuận quét luôn nửa bên kia. Cả mảnh sân sạch bong. Mệt thêm chút, nhưng Thuận thấy rất hài lòng. Sáng hôm sau, Thuận dậy sớm, lại quét luôn cả cái sân, hết sức thoải mái và thích thú. Theo HOÀNG ANH ĐƯỜNG Câu hỏi: Em hiểu vì sao cái sân chung như được chia thành hai nửa? Trả lời: Em hiểu cái sân chung như được chia thành hai nửa vì bên nhà Thuận thì đã quét sạch còn nhà Liên thì chưa. 2) Bài: Những hạt thóc giống Ngày xưa, có một ông vua cao tuổi muốn tìm người nối ngôi. Vua ra lệnh phát cho mỗi người dân một thúng thóc về gieo trồng và giao hạn: Ai thu được nhiều thóc nhất sẽ được truyền ngôi, ai không có thóc nộp sẽ bị trừng phạt. Có một chú bé mồ côi tên là Chôm nhận thóc về, dốc công chăm sóc mà thóc vẫn chẳng nảy mầm. Đến vụ thu hoạch, mọi người nô nức chở thóc về kinh thành nộp cho nhà vua. Chôm lo lắng đến trước vua, quỳ tâu: - Tâu Bệ hạ! Con không làm sao cho thóc này nảy mầm được. Mọi người đều sững sờ khi nghe Chôm nói. Nhưng nhà vua đã đỡ chú bé đứng dậy. Ngài hỏi còn ai để chết thóc giống không. Không ai trả lời. Lúc đó, nhà vua mới ôn tồn nói: - Trước khi phát thóc giống, ta đã cho luộc kĩ rồi. Lẽ nào thóc ấy còn mọc được? Những xe thóc đầy ắp kia đâu phải thu được từ thóc giống của ta! Rồi vua dõng dạc nói tiếp:
- - Trung thực là đức tính quý nhất của con người. Ta sẽ truyền ngôi cho chú bé trung thực và dũng cảm này. Chôm được truyền ngôi và trở thành ông vua hiền minh. Câu hỏi: Nhà vua tìm người nối ngôi bằng cách nào? Trả lời: Nhà vua tìm người nối ngôi bằng cách phát cho mỗi người dân một thúng thóc giống đã được luộc kĩ và giao hẹn: ai thu được nhiều thóc sẽ được truyền ngôi báu, ai không có thóc nộp sẽ bị trừng phạt. 3) Bài: .Những trang sách tuổi thơ Ba tôi đi làm xa nên những câu chuyện đầu tiên tôi nghe được là từ bà nội và chú tôi. Bà kể tôi nghe chuyện “Tấm Cám”, “Thạch Sanh”, “Cây tre trăm đốt”, “Đôi hài bảy dặm”, .Chú tôi lại thích kể chuyện “Tôn Ngộ Không” và một số chuyện trong “Nghìn lẻ một đêm”. Bà và chú kể mãi cũng hết chuyện. Từ khi nghe chú tôi mách những câu chuyện đó và vô số những câu chuyện tương tự được viết trong các cuốn sách, tôi cố gắng học chữ để có thể tự mình khám phá thế giới kì diệu kia. Bảy tuổi, tôi mê mẩn với những cuốn sách ba tôi mua về. Tám, chín tuổi tôi đã mày mò đọc hết rương truyện Trung Hoa của ông thợ hớt tóc trong làng. Rồi tôi tìm đến “Không gia đình”, “Những người khốn khổ”, Tôi khóc cười qua những trang sách, ngạc nhiên thấy mình trải qua những cảm xúc mà trên thực tế tôi chưa đủ lớn để trải nghiệm ngoài đời. Sách đã bồi đắp tâm hồn, làm giàu có và làm trưởng thành tình cảm một đứa bé, mài sắc một cách tự nhiên các ý niệm đạo đức qua sự yêu ghét với người hiền kẻ ác và đặc biệt mở rộng đến vô biên bờ cõi của trí tưởng tượng. Câu hỏi: Bài đọc trên là lời kể của ai? Trả lới: Bài đọc trên là lời kể của bạn nhỏ. 4)Bài: Ba nàng công chúa Vua San-ta có ba nàng công chúa rất xinh đẹp và giỏi giang. Năm ấy, đất nước có giặc ngoại xâm mà vua tuổi đã cao, sức đã yếu. Ba nàng công chúa cùng nhau đến xin vua cha cho ra trận nhưng đức vua khoát tay, bảo: - Các con mảnh mai như thế thì làm được gì nào? Ba nàng công chúa lẳng lặng từ biệt cha. Đến nơi bị giặc bao vây, công chúa cả ôm đàn lên mặt thành, bắt đầu hát. Nàng hát những làn điệu dân ca với giọng ấm áp, mê hồn. Lính giặc sửng sốt rồi chẳng ai bảo ai cùng hạ vũ khí, ngây người lắng nghe. Công chúa chuyển sang một điệu dân vũ, tất cả đều nhảy múa và hát theo. Đêm xuống, công chúa út thay chị kể chuyện cho lính giặc nghe. Đó là chuyện mẹ già tựa cửa mong con, người vợ, người con vắng chồng, vắng cha, đang lam lũ vất vả nơi quê nhà, Câu chuyện của nàng khiến toàn bộ lính giặc muốn lập tức trở về quê hương.
- Hôm sau, tướng giặc đành đầu hàng và xin đức vua cấp thêm ngựa xe, lương thực để chúng rút quân. Nhưng kho lương đã cạn, ngựa cũng đã chết gần hết. Biết làm sao đây! Lúc đó, công chúa hai vung bút vẽ hàng đoàn xe ngựa nối đuôi nhau. Nàng chấm bút vào mắt từng con ngựa. Lập tức, cả đoàn ngựa hí vang, những cỗ xe lương thực lăn bánh trước con mắt kinh ngạc của mọi người. Tiếng đồn về ba nàng công chúa bay đi rất xa. Đức vua rất tự hào về ba cô con gái, còn các vương quốc láng giềng thì từ đó sống với nhau rất thân ái, chan hòa. Câu hỏi Tìm những chi tiết nói lên quyết tâm bảo vệ đất nước của ba nàng công chúa. Trả lời: Ba nàng công chúa xin vua cha cho ra trận, lẳng lặng từ biệt cha. 5)Bài: Ba nàng công chúa Vua San-ta có ba nàng công chúa rất xinh đẹp và giỏi giang. Năm ấy, đất nước có giặc ngoại xâm mà vua tuổi đã cao, sức đã yếu. Ba nàng công chúa cùng nhau đến xin vua cha cho ra trận nhưng đức vua khoát tay, bảo: - Các con mảnh mai như thế thì làm được gì nào? Ba nàng công chúa lẳng lặng từ biệt cha. Đến nơi bị giặc bao vây, công chúa cả ôm đàn lên mặt thành, bắt đầu hát. Nàng hát những làn điệu dân ca với giọng ấm áp, mê hồn. Lính giặc sửng sốt rồi chẳng ai bảo ai cùng hạ vũ khí, ngây người lắng nghe. Công chúa chuyển sang một điệu dân vũ, tất cả đều nhảy múa và hát theo. Đêm xuống, công chúa út thay chị kể chuyện cho lính giặc nghe. Đó là chuyện mẹ già tựa cửa mong con, người vợ, người con vắng chồng, vắng cha, đang lam lũ vất vả nơi quê nhà, Câu chuyện của nàng khiến toàn bộ lính giặc muốn lập tức trở về quê hương. Hôm sau, tướng giặc đành đầu hàng và xin đức vua cấp thêm ngựa xe, lương thực để chúng rút quân. Nhưng kho lương đã cạn, ngựa cũng đã chết gần hết. Biết làm sao đây! Lúc đó, công chúa hai vung bút vẽ hàng đoàn xe ngựa nối đuôi nhau. Nàng chấm bút vào mắt từng con ngựa. Lập tức, cả đoàn ngựa hí vang, những cỗ xe lương thực lăn bánh trước con mắt kinh ngạc của mọi người. Tiếng đồn về ba nàng công chúa bay đi rất xa. Đức vua rất tự hào về ba cô con gái, còn các vương quốc láng giềng thì từ đó sống với nhau rất thân ái, chan hòa. Câu hỏi: Vì sao vua cha không muốn cho các con gái ra trận? Trả lời: Vì các cô con gái mảnh mai sẽ không làm được gì. 6)Bài : Kỉ niệm xưa Ngôi nhà cũ của ông bà nội tôi nằm giữa một khu vườn rộng. Tôi nhớ mãi về căn nhà nhỏ này, nơi lưu giữ tuổi thơ yêu dấu. Ngôi nhà khung gỗ, có những cột lim lên nước đen bóng. Trong ngôi nhà mát lịm, ông nội tôi hay ngồi sau án thư
- bên cửa sổ bắt mạch, kê đơn, châm cứu và bốc thuốc. Mỗi khi ông làm việc, chị em chúng tôi lại kéo nhau ra vườn chơi. Trò chơi các chị tôi chơi mãi không chán là bán hàng. Các chị lấy dây tơ hồng mọc trên hàng rào cây cúc tần, cắt khúc ngắn để giả làm bún, phở, lấy lá râm bụt nấu canh. Còn tôi, bé nhất hội, bán bánh đa làm từ khoai lang luộc. Tiếng mời chào, tiếng khen ngon, kêu nóng râm ran cả một góc vườn. Khác với bọn con gái, lũ con trai – là anh Hải, con bác tôi và Sơn, Hữu – con cô tôi lại khoái trò chơi đánh trận. Anh Hải lớn nhất trong các anh chị em, luôn luôn nhận là tổng chỉ huy. Ba an hem đánh nhau tít mù khiến lá cây rơi lả tả. Thường là đến phần bất phân thắng bại thì ông nội thò đầu ra cửa sổ, quát to: “Nghịch vừa vừa thôi!” Sau này, khi đã khôn lớn, chị em chúng tôi vẫn thân thiết với nhau như hồi thơ bé. Chúng tôi hay ngồi nhắc lại những trò chơi thuở nhỏ và mảnh vườn xưa yêu dấu của ông bà nội. Phải chăng bởi những kỉ niệm thơ bé ấy mà tình chị em con cô con cậu của chúng tôi vẫn bền chặt mãi qua thời gian. Câu hỏi: Khung cảnh ngôi nhà xưa của ông bà nội được miêu tả như thế nào? Trả lời: Khung cảnh ngôi nhà xưa của ông bà nội được miêu tả ngôi nhà khung gỗ có những cột gỗ lim lên nước đen bóng. 7) Bài: Nhà bác học của đồng ruộng Lương Định Của là nhà nông học xuất sắc và là cha đẻ của nhiều giống cây trồng mới. Rất nhiều sản phẩm nông nghiệp được nông dân gắn liền với tên của ông một cách thân thiết: dưa ông Của, cà chua ông Của, lúa ông Của, Còn bạn bè trìu mến gọi ông là “nhà bác học của đồng ruộng”. Là viện trưởng một viện nghiên cứu nhưng Lương Định Của vẫn làm việc trong một căn phòng rất đơn sơ. Ngoài giờ lên lớp, ông thường xắn quần, lội trên những cánh đồng thí nghiệm. Ông là người đầu tiên ứng dụng một cách sáng tạo các kĩ thuật canh tác của nước ngoài vào việc trồng lúa ở Việt Nam như: cấy chăng dây thẳng hàng, cấy ngửa tay để cây lúa không bị ngập quá sâu xuống bùn, . Có lần, một người bạn nước ngoài gửi cho viện nghiên cứu của ông mười hạt thóc giống quý. Giữa lúc ấy, trời rét đậm. Ông Của bảo: “Không thể để những hạt giống quý này nảy mầm rồi chết vì rét.” Ông chia mười hạt thóc giống làm hai phần. Năm hạt, ông gieo trong phòng thí nghiệm. Năm hạt còn lại, ông ngâm nước ấm, gói vào khăn, tối tối ủ trong người, trùm chăn ngủ để hơi ấm của cơ thể làm thóc nảy mầm. Sau đợt rét kéo dài, chỉ có năm hạt thóc ông Của ủ trong người là giữ được mầm xanh. Ông Lương Định Của không còn nữa nhưng những giống cây ông để lại và tên tuổi của ông vẫn còn khắc sâu trong tâm trí của người dân Việt Nam. Ông đã được nhà nước trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Huân chương Lao động hạng Nhất và Giải thưởng Hồ Chí Minh. Câu hỏi:
- Tìm trong đoạn 1 những tên gọi thể hiện sự đánh giá đối với tài năng và đóng góp của ông Lương Định Của. Trả lời: Những tên gọi thể hiện sự đánh giá đối với tài năng và đóng góp của ông Lương Định Của: nhà nông học xuất sắc, cha đẻ của nhiều giống cây trồng mới, nhà bác học của đồng ruộng. 8) Bài:Theo đuổi ước mơ Ca-tơ-rin là một cô bé cực kì thích đếm. Cô đếm số bước chân đi trên đường. Cô đếm số đĩa bát khi rửa. Và khi nhìn lên bầu trời, Ca-tơ-rin luôn tự hỏi: “Cần bao nhiêu bước để có thể lên được Mặt Trăng?”. Cô nhủ thầm: “Nhất định sẽ có ngày mình tính được cách lên Mặt Trăng, nhất định như vậy!”. Niềm mơ ước ấy khiến Ca-tơ-rin say mê với môn Toán, đặc biệt là hình học. Ca-tơ-rin có thể giải được những bài toán vô cùng hóc búa. Bạn bè âu yếm gọi cô là “chuyên gia toán học”. Năm 34 tuổi, Ca-tơ-ri lúc đó đang là một giáo viên – đọc được thông tin về việc tổ chức NASA tuyển người để giải các bài toán. Ca-to-rin lập tức nộp đơn vì cô nghĩ đó có thể là con đường để đạt được ước mơ từ thời thơ ấu của mình. Nhưng ở lần nộp đơn đầu tiên, Ca-tơ-ri bị từ chối. Không bỏ cuộc, năm sau, Ca- tơ-ri lại nộp đơn và lần này cô được nhận. Những nỗ lực không ngừng đã giúp cô trở thành thành viên trong dự án không gian của NASA. Năm 1962, Hoa Kì quyết định đưa người lên Mặt Trăng. Đó là một thử thách cực kì lớn đối với loài người. Với niềm mơ ước được ấp ủ từ nhỏ và năng lực tuyệt vời, Ca-tơ-ri đã sử dụng toán học để tìm ra các con đường cho tàu vũ trụ quay quanh Trái Đất và hạ cánh trên Mặt Trăng. Những tính toán của Ca-tơ-ri thật sự hoàn hảo, đã góp phần đứa các phi hành gia lên Mặt Trăng rồi quay trở lại Trái Đất an toàn. Ca-tơ-ri làm việc ở NASA hơn 30 năm. Khi nghỉ hưu, bà thường đến các trường học để nói chuyện với học sinh. Thông điệp lớn nhất mà Ca-to-ri gửi tới các em là: “Đừng bao giờ từ bỏ giấc mơ của bạn!”. Câu hỏi Thuở nhỏ, Ca-tơ-rin mơ ước điều gì? Trả lời: Thuở nhỏ, Ca-tơ-rin mơ ước tính được cách lên Mặt Trăng.
- II.Kiểm tra đọc hiểu Đọc bài văn sau: CÁI RĂNG KHỂNH Tôi có một cái răng khểnh. Thỉnh thoảng, tụi bạn lại trêu tôi. Có bạn còn nói: “Đó là vì cậu không chịu đánh răng. Người siêng đánh răng, răng sẽ mòn đều”. Từ đó, tôi ít khi cười. Một hôm, bố tôi hỏi: - Sao dạo này bố ít thấy con cười? Tôi nói: - Tại sao con phải cười hả bố? - Đơn giản thôi. Khi cười khuôn mặt con sẽ rạng rỡ. Khuôn mặt người ta đẹp nhất là nụ cười. - Nhưng con cười sẽ rất xấu. -Tại sao? – Bố ngạc nhiên. – Ai nói với con vậy? - Không ai cả, nhưng con biết rất xấu! Đẹp sao được khi có cái răng khểnh? -Ái chà! – Bố bật cười. – Thì ra là vậy. Nó đẹp lắm, nó làm nụ cười của con khác với các bạn. Đáng lí con phải tự hào chứ. Mỗi người có một nét riêng. Hãy quan sát đi rồi con sẽ thấy rất nhiều điều bí mật về những người xung quanh mình. Một hôm, tôi thuật lại câu nói của bố về điều bí mật cho cô giáo. Cô nhìn tôi, dịu dàng hỏi: - Vậy em có điều bí mật gì không? - Dạ, có. Nhưng em sẽ không kể cho cô nghe đâu ạ. - Khi em kể điều bí mật cho một người biết giữ bí mật thì bí mật vẫn còn. Khi em kể cho cô, sẽ có hai người cùng giữ chung một bí mật. Tôi đã kể cho cô nghe bí mật của tôi. Tôi cũng muốn kể cho các bạn nghe nữa, như vậy các bạn sẽ giữ giùm tôi một điều bí mật, bí mật về một cậu bé hay cười vì có cái răng khểnh. Theo Nguyễn Ngọc Thuần
- Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng hoặc thực hiện các yêu cầu sau đây : Câu 1: Bạn nhỏ trong bài có đặc điểm ngoại hình nào nổi bật so với các bạn? A. Có lúm đồng tiền B. Có răng khểnh C. Có tóc xoăn D. Có nước da ngăm Câu 2: Vì sao bạn nhỏ trong bài đọc lại ít khi cười? A. Vì bị bạn bè trêu là không chịu đánh răng nên mới có răng khểnh B. Vì bạn nhỏ không thích cười C. Vì bạn nhỏ muốn bắt chước người lớn nên ít cười D. Vì bạn nhỏ bị hở lợi khi cười nên ít cười Câu 3: Vì sao người bố cho rằng bạn nhỏ nên cười? A. Vì bố thích nhìn con trai của mình mỉm cười B. Vì bố cho rằng một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ C. Vì bố cho rằng khi cười khuôn mặt sẽ rạng rỡ, khuôn mặt người ta đẹp nhất là nụ cười D Vì bố cho rằng khi cười khuôn mặt sẽ trở nên thân thiện, được mọi người yêu quý Câu 4: Theo bố, vì sao cái răng khểnh của bạn nhỏ lại rất đẹp? A. Vì bạn nhỏ là con trai của bố B. Vì bố cũng có một cái răng khểnh C. Vì cái răng khểnh làm nụ cười của bạn nhỏ khác với các bạn D Vì bố thích người có răng khểnh Câu 5: Vì sao người bố cho rằng bạn nhỏ nên tự hào khi có chiếc răng khểnh? A. Vì những người có răng khểnh đều là người thông minh B. Vì chiếc răng khểnh giúp bạn nhỏ đẹp trai hơn C. Vì chiếc răng khểnh giúp bạn nhỏ có nét riêng, khác với mọi người D. Vì chiếc răng khểnh giúp bạn nhỏ giống với mọi người xung quanh Câu 6: Vì sao cậu bé đồng ý chia sẻ cho cô giáo bí mật của mình? A. Vì cậu bé rất yêu quý cô giáo, muốn chia sẻ với cô mọi điều B. Vì cô giáo yêu cầu cậu bé phải chia sẻ bí mật với mình C. Vì cậu bé không đủ khả năng giữ bí mật của mình D. Vì khi chia sẻ với cô giáo, cậu bé sẽ có thêm một người cùng giữ bí mật Câu 7: Chi tiết cuối bài đọc “một cậu bé hay cười vì có cái răng khểnh” cho thấy điều gì? ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................ Câu 8: Ý nghĩa của bài đọc “Cái răng khểnh” là gì? ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................ Câu 9. Dấu gạch ngang trong đoạn văn sau có tác dụng gì? Một hôm, bố tôi hỏi:
- - Sao dạo này bố ít thấy con cười? Tôi nói: - Tại sao con phải cười hả bố? - Đơn giản thôi. Khi cười khuôn mặt con sẽ rạng rỡ. Khuôn mặt người ta đẹp nhất là nụ cười. - Nhưng con cười sẽ rất xấu. A. Đánh dấu lời nói của nhân vật. B. Đánh dấu các ý liệt kê. C. Là bộ phận giải thích cho bộ phận đứng trước. Câu 10. Viết lại các danh từ trong câu sau: Hãy quan sát đi rồi con sẽ thấy rất nhiều điều bí mật về những người xung quanh mình. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. Câu 11. Đặt 1 câu trong đó có sử dụng biện pháp nhân hóa. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. ................................................................................................................................. B: KIỂM TRA VIẾT: Viết bài văn miêu tả một con vật mà em từng nuôi hoặc từng nhìn thấy và có ấn tượng đặc biệt .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................. .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... .................................................................................................................................................... ....................................................................................................................................................
- ĐÁP ÁN, BIỂU ĐIỂM ĐỀ KIỂM TRA CL HK I NĂM HỌC 2024-2025 Môn: Tiếng Việt lớp 4 A. KIỂM TRA ĐỌC (10 điểm) Phần I: Đọc thành tiếng (3,0 điểm) *Bài đọc: - Giáo viên phát phiếu cho học sinh chuẩn bị trước 3 phút. Sau đó, gọi học sinh bốc thăm chọn bài, giáo viên đưa phiếu của mình yêu cầu học sinh đọc trong thời gian 1 phút. - Giáo viên dùng phiếu học sinh để ghi kết quả đánh giá. Tiếng nào học sinh đọc sai, giáo viên gạch chéo (/), cuối cùng tổng hợp lại để tính điểm. - Nội dung chấm cụ thể như sau: *Cách cho điểm: ( Theo bảng sau) Nội dung Điểm tối đánh giá đọc thành đa tiếng Yêu cầu (3,0 điểm) - Tư thế tự nhiên, tự tin. 1. Cách đọc 0,5 điểm - Đọc diễn cảm tốt các văn bản. - Đọc đúng từ, phát âm rõ. 2. Đọc đúng 0,5 điểm - Thể hiện cảm xúc qua nhấn nhá từ ngữ. 3. Tốc độ - 80-90 tiếng/phút. Đọc thầm với tốc độ 0,5 điểm đọc(tiếng/phút) nhanh hơn lớp 3. - Ngắt nghỉ đúng văn phong khác nhau. 4. Ngắt hơi, ngắt nhịp 0,5 điểm - Nhấn nhá tự nhiên theo ngữ cảnh. -Nhấn giọng đúng từ ngữ, thể hiện cảm 5. Đọc diễn cảm 0,5 điểm xúc qua giọng đọc. - Trả lời rõ ràng, ngắn gọn đúng trọng 6. Trả lời câu hỏi nội tâm nội dung câu hỏi. 0,5 điểm dung bài đọc - Ghi chú chi tiết và có lập luận. Phần II: Đọc hiểu (7,0 điểm) 1. Trắc nghiệm Câu 1 2 3 4 5 6 10 Đáp án B A C C C D A Điểm 0,5 0,5 0,5 0,5 0,5 0,5 0,5
- 2. Tự luận Câu Gợi ý đáp án Điểm HS trả lời theo ý hiểu: Chi tiết cuối bài đọc “một cậu bé hay cười vì có cái răng khểnh” cho thấy điều gì? 7 Cậu bé đã không còn tự ti về chiếc răng khểnh nữa, mà thoải 1,0 mái, tự tin hơn về nét riêng của chính mình * Cách cho điểm: Học sinh nêu đúng ý, diễn đạt tốt cho 1 điểm nếu đúng ý nhưng diễn đạt lủng củng cho tùy theo mức độ. Ý nghĩa của bài đọc “Cái răng khểnh” là gì? (HS chọn nhiều đáp án0 Ca ngợi nét riêng của mỗi người 1,0 8 Khuyên chúng ta nên tự hào về nét riêng của chính mình * Cách cho điểm: - HS viết được câu có nội dung hợp lí, diễn đạt rõ ý cho 1,0 điểm, học sinh nêu được đúng ý nhưng diễn đạt lủng củng cho 0,5 điểm hoặc tùy theo mức độ.... 9 HS viết được các danh từ: con, điều bí mật, người. Thiếu 1 từ 0,5 trừ 0,2 điểm. HS đặt được câu đúng theo yêu cầu đề bài, nếu đầu câu không 11 viết hoa, cuối câu không có dấu chấm trừ 0,1 điểm/lỗi. 1,0 B. KIỂM TRA VIẾT Viết bài văn miêu tả một con vật mà em từng nuôi hoặc từng nhìn thấy và có ấn tượng đặc biệt. TT Yêu cầu cần đạt Biểu điểm * Hình thức và kỹ năng 4,0 Đề tài " Con vật" không xa lạ với các em học sinh. Động vật rất điểm 1 gần gũi và quen thuộc, nó gắn bó với con người trong cuộc sống. Tuy nhiên với đề tài này dễ rơi với tình trạng học thuộc theo văn mẫu..... Vì thế đáp án biểu điểm cố gắng sẽ khắc phục tình trạng này. Dưới đây là những định hướng: - Bài viết có dung lượng hợp lý (khoảng 12 – 15 câu), chữ viết 1,5 sạch đẹp, hạn chế tối đa lỗi chính tả, lỗi dùng từ, đặt câu (Không quá 03 lỗi); - Bố cục của bài viết khoa học 3 phần, mở, thân, kết. Trong phần 1,5 thân bài có ý thức tách đoạn theo từng phần đặc điểm hình dáng bên ngoài ,thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con vật... (ít nhất hai đoạn); - Đúng kiểu bài miêu tả con vật, biết sử dụng các từ ngữ gợi tả 1,0 màu sắc ,hình dáng,kích thước, âm thanh,..., có ý thức sử dụng
- các biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hoá trong khi miêu tả. * Cách cho điểm: Mức 1: Đảm bảo đủ, tốt các ý trên cho 4,0 điểm Mức 2: Cơ bản đủ, khá tốt các yêu cầu trên cho 3,5 điểm Mức 3: Đáp ứng 2/3 các yêu cầu trên cho 3,0 điểm Mức 4: Các trường hợp còn lại cho 2,0 điểm 2 Nội dung 5,0 điểm 1. Mở bài: 0,5 Giới thiệu con vật định tả là con gì, một con hay cả bầy (Con vật đang ở đâu? Em thấy con vật này vào lúc nào?) * Cách cho điểm: Trường hợp đặc biệt mới trừ điểm của HS phần này. 2. Thân bài: Phần thân bài HS miêu tả đặc điểm hình dáng bên ngoài ,thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con vật. 4,0 Sau đây là gợi ý cho HS triển khai các ý của phần thân bài: a. Miêu tả hình dáng bên ngoài: +Tả bao quát: vóc dáng, bộ lông hoặc màu da. +Tả từng bộ phận: đầu (tai, mắt...), thân hình, chân, đuôi. b. Miêu tả tả thói quen sinh hoạt và một vài hoạt động chính của con vật: +Tả một vài biểu hiện về tính nết, thói quen của con vật. +Tả một số hoạt động chính của con vật: bắt mồi, ăn, kêu (gáy, sủa...)... + Chú ý kết hợp tả một vài nét về cảnh hoặc người liên quan đến môi trường sống của con vật. * Cách cho điểm: Không cho cụ thể từng mục trong phần thân bài, đọc nhìn tổng quát phần thân bài cho điểm thành các mức dưới đây: Mức 1: Thân bài biết sử dụng các từ ngữ gợi tả màu sắc ,hình dáng,kích thước, âm thanh,..., có ý thức sử dụng các biện pháp nghệ thuật, lựa chọn những đặc điểm nổi bật của con vật khi miêu tả: cho 4,0 điểm Mức 2: Thân bài miêu tả cơ bản đầy đủ về hình dáng, kích thước và hoạt động của con vật: cho 3,5 đến 3,75 điểm Mức 3: Miêu tả được một số bộ phận của con vật: 3,0 đến 3,25 điểm Mức 4: Miêu tả chưa đủ các đặc điểm ngoại hình, hoạt động, của con vật: cho 2,5 đến 2,75 điểm. Mức 5: Các trường hợp còn lại cho 2,0 đến 2,25 điểm. Chú ý: - Những bài viết theo mẫu, xuất hiện nhiều ở học sinh, bài viết không được đánh giá cao, phần thân bài cho tối đa không quá 3,5 điểm.
- 3. Kết bài Tình cảm của em với con vật (hoặc suy nghĩ, cảm xúc, điều 0,5 mong muốn,... đối với con vật). * Cách cho điểm: Trường hợp đặc biệt mới trừ điểm của HS phần này. 3 Sáng tạo 1,0 Sử dụng ngôn ngữ mới mẻ, có tính sáng tạo, tránh cách diễn đạt 0,5 quá rập khuôn. Thể hiện được tình cảm riêng biệt của em về con vật. 0,5

